Mã số thuế chưa đóng không phải là căn cứ độc lập để xác định toàn bộ nghĩa vụ thuế trong thời gian doanh nghiệp đã ngừng hoạt động thực tế. Vì vậy, có cơ sở nghiên cứu việc không truy thu lệ phí môn bài, không xử phạt các tờ khai không phát sinh nghĩa vụ thuế đối với những trường hợp chứng minh được đã thực sự chấm dứt kinh doanh.
Đây là chia sẻ của Luật sư Nguyễn Văn Tuấn - Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội xung quanh đề xuất tháo gỡ nghĩa vụ thuế và thủ tục cho doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm.

Mã số thuế chưa đóng không đồng nghĩa phát sinh nghĩa vụ thuế
- Thưa luật sư, hiện có nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã ngừng hoạt động nhiều năm nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Việc mã số thuế chưa được đóng có đồng nghĩa với việc người nộp thuế phải tiếp tục thực hiện và chịu mọi nghĩa vụ thuế, lệ phí trong toàn bộ thời gian này?
- Ngừng hoạt động trên thực tế và chấm dứt hiệu lực mã số thuế là hai vấn đề pháp lý khác nhau. Việc doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã đóng cửa không đồng nghĩa mọi nghĩa vụ với cơ quan thuế tự động chấm dứt.
Theo Phụ lục I Thông tư số 90/2026/TT-BTC, trạng thái mã số thuế 03 được xác định là “người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế”. Khi ở trạng thái này, về mặt quản lý thuế, quá trình khép lại nghĩa vụ của người nộp thuế chưa hoàn tất.
Do đó, người nộp thuế vẫn phải rà soát các hồ sơ khai thuế, quyết toán, thuế còn phải nộp, tiền chậm nộp, tiền phạt nếu có, hóa đơn và những thủ tục liên quan trước khi hoàn tất việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ: Mã số thuế chưa đóng không phải là căn cứ độc lập để xác định người nộp thuế có phát sinh toàn bộ nghĩa vụ thuế trong suốt thời gian đó. Nghĩa vụ thuế cụ thể phải được xác định dựa trên hoạt động thực tế, doanh thu, giao dịch, kỳ tính thuế và căn cứ tính thuế.
- Nếu doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã thực sự ngừng kinh doanh, không còn doanh thu, giao dịch nhưng chưa đóng mã số thuế, cơ quan thuế có thể truy thu thuế, lệ phí trong toàn bộ thời gian này không, thưa ông?
- Theo tôi, không nên chỉ căn cứ vào trạng thái mã số thuế để mặc nhiên xác định nghĩa vụ thuế trong toàn bộ thời gian người nộp thuế chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt.
Trạng thái 03 chỉ phản ánh tình trạng quản lý: Người nộp thuế đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Đây không phải là căn cứ độc lập để xác định doanh thu hay số thuế phải nộp.
Nếu người nộp thuế chứng minh được đã thực sự ngừng kinh doanh, không còn doanh thu, không phát sinh giao dịch và không có căn cứ tính thuế thì không thể chỉ dựa vào trạng thái mã số thuế để coi toàn bộ thời gian đó là thời gian có hoạt động kinh doanh.
Ngược lại, nếu cơ quan thuế có dữ liệu cho thấy người nộp thuế vẫn có doanh thu, giao dịch hoặc căn cứ tính thuế nhưng không kê khai, kê khai không đầy đủ thì việc truy thu thuế vẫn cần thiết và có cơ sở pháp lý.
- Một số chuyên gia đề xuất với những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm, nên có cơ chế không truy thu lệ phí môn bài, đồng thời không xử phạt đối với các tờ khai không phát sinh nghĩa vụ thuế. Theo luật sư, đề xuất này có cơ sở không?
- Tôi cho rằng đề xuất này có cơ sở để nghiên cứu, nhất là đối với những trường hợp đã thực sự chấm dứt hoạt động từ nhiều năm, không còn doanh thu, không phát sinh giao dịch và không có căn cứ tính thuế. Điểm quan trọng là phải phân biệt giữa sai phạm về thủ tục và nghĩa vụ thuế thực tế.
Việc không thông báo ngừng kinh doanh hoặc không thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế vẫn là hành vi không tuân thủ quy định và cần có cơ chế xử lý phù hợp. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp đã thực tế ngừng hoạt động thì việc tiếp tục phát sinh các khoản lệ phí, tiền chậm nộp hoặc xử phạt liên quan đến những hồ sơ không phát sinh nghĩa vụ thuế có thể khiến người nộp thuế gặp thêm khó khăn khi thực hiện thủ tục chấm dứt mã số thuế.
Ở góc độ chính sách, có thể nghiên cứu cơ chế không truy thu lệ phí môn bài đối với những trường hợp đã ngừng hoạt động thực tế trong nhiều năm và có đủ căn cứ chứng minh; đồng thời không xử phạt đối với các tờ khai mà thực tế không phát sinh nghĩa vụ thuế.
Tuy nhiên, cơ chế này không nên áp dụng đại trà. Nếu dữ liệu cho thấy doanh nghiệp vẫn có hoạt động, doanh thu hoặc giao dịch thì phải xác định đầy đủ nghĩa vụ thuế và xử lý theo quy định.

Dùng dữ liệu để xác định đúng, xử lý theo từng nhóm
- Theo Luật sư, cần căn cứ vào những hồ sơ, dữ liệu nào để xác định doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã thực sự ngừng hoạt động và không phát sinh doanh thu?
- Không thể chỉ dựa vào lời khai của người nộp thuế hoặc trạng thái mã số thuế. Cần xác định bằng một chuỗi dữ liệu có khả năng kiểm chứng và đối chiếu.
Trước hết là thời điểm thực tế chấm dứt hoạt động. Có thể xem xét thông báo ngừng kinh doanh, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh, hợp đồng thuê mặt bằng đã thanh lý, hồ sơ lao động, điện, nước, hợp đồng với nhà cung cấp...
Tiếp đó là dữ liệu tài chính và giao dịch. Cần đối chiếu tài khoản ngân hàng, tài khoản nhận thanh toán, ví điện tử, cổng thanh toán, dữ liệu từ sàn thương mại điện tử, đơn vị vận chuyển và hóa đơn điện tử.
Nếu sau thời điểm xác định ngừng kinh doanh không còn đơn hàng, hóa đơn, khoản thu từ khách hàng hoặc dòng tiền mang bản chất doanh thu thì đây là những căn cứ quan trọng để chứng minh không phát sinh doanh thu.
Bên cạnh đó, cần đối chiếu với hồ sơ khai thuế, quyết toán thuế, sổ sách kế toán, công nợ và hàng tồn kho. Một hồ sơ chứng minh tốt phải thể hiện sự thống nhất giữa nhiều nguồn dữ liệu.
- Với những doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã ngừng hoạt động từ lâu nhưng mã số thuế vẫn còn tồn tại, theo luật sư nên có giải pháp gì để vừa bảo đảm quản lý thuế, vừa tháo gỡ cho người nộp thuế?
- Theo tôi, trước hết cần phân loại rõ các trường hợp thay vì áp dụng một cách xử lý chung.
Nhóm thứ nhất là những doanh nghiệp, hộ kinh doanh có đủ căn cứ xác định đã thực sự ngừng hoạt động, không còn doanh thu, giao dịch và nghĩa vụ thuế phát sinh. Với nhóm này, có thể nghiên cứu cơ chế xử lý đơn giản hơn, trong đó xem xét không truy thu các khoản lệ phí phát sinh trong thời gian không hoạt động và không xử phạt đối với các tờ khai thực tế không phát sinh nghĩa vụ thuế, đồng thời cho phép hoàn tất thủ tục chấm dứt mã số thuế.
Nhóm thứ hai là những trường hợp chưa đủ căn cứ xác định thời điểm ngừng hoạt động. Cơ quan thuế cần yêu cầu bổ sung hồ sơ, đối chiếu dữ liệu để xác định chính xác thời điểm và nghĩa vụ phát sinh.
Nhóm thứ ba là những trường hợp dữ liệu cho thấy vẫn có doanh thu, giao dịch hoặc hoạt động kinh doanh. Những trường hợp này phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế và xử lý vi phạm theo quy định.
Cách phân loại này sẽ giúp tránh hai thái cực: một mặt không bỏ lọt nghĩa vụ thuế của những trường hợp vẫn hoạt động; mặt khác không biến việc mã số thuế chưa đóng thành căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ thuế đối với những chủ thể đã thực sự ngừng kinh doanh.
Xin cảm ơn ông!
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.