Phố đã lên đèn từ chập tối. Những dãy cờ đỏ sao vàng giăng mắc đầy ban công, ánh sáng từ những ngọn đèn đường hắt xuống mặt đường vàng vọt.
Nam đẩy chiếc xe chở nồi chè sắn nóng qua đoạn phố Hàng Bông đông đúc nhất, nơi người ta chen chân nhau mua những chùm hoa cúc vàng, những gói cốm dẹt gói trong lá sen tươi. Tiếng nhạc bài hát “Tiến về Hà Nội” từ chiếc loa phóng thanh ở ngã tư vọng lại, lúc trầm lúc bổng, như nhịp thở của cả thành phố đang nén lại để chuẩn bị cho một ngày đại lễ.

Anh không còn trẻ, cái tuổi ngoài ba lăm khiến người ta vừa đủ mệt mỏi, vừa đủ chai lì để bước tiếp qua từng mùa đông lạnh giá. Mái tóc cắt ngắn đã lốm đốm vài sợi bạc sau gáy. Nam lên Hà Nội gần hai năm, từ ngày cái xưởng gạch ở quê phá sản, vợ anh lại đổ bệnh nằm một chỗ, một mình anh phải gánh trên vai cả tiền thuốc cho vợ lẫn tiền học phí cho hai đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn.
Ngày còn ở quê ven sông Đáy, Nam làm công nhân nhà máy gạch, vợ anh - chị Huệ - làm nón lá. Cuộc sống tuy không giàu nhưng êm đềm, hạnh phúc. Chiều nào Nam cũng về kịp bữa cơm tối, ngồi nghe hai đứa nhỏ tranh nhau kể chuyện trường lớp. Vậy mà biến cố ập đến chẳng báo trước. Xưởng gạch giải thể vì không cạnh tranh nổi với gạch công nghiệp, cùng lúc đó cơn bệnh bất ngờ khiến Huệ không thể lao động nặng. Tiền tích góp mấy năm chớp mắt đã cạn sạch theo những đơn thuốc dài ngoằng.
Đêm hôm Nam quyết định khăn gói lên Thủ đô, anh ngồi bên phản gỗ, tay nắm chặt bàn tay gầy guộc của vợ, giọng nghẹn lại:
- Anh đi làm ăn trên phố ít lâu, kiếm chút vốn rồi về. Em ở nhà ráng giữ sức, nhờ mẹ trông nom hai đứa.
Huệ không khóc, chỉ cố mỉm cười nhưng nước mắt cứ trào ra ở khóe mắt chân chim:
- Trên đó đất chật người đông, anh cố gắng nhé. Vợ chồng có nhau, gian khổ mấy rồi cũng qua, miễn là các con không phải bỏ học...
***
Lên thành phố, Nam thuê một góc phòng trọ chật chội ở ngoài bãi giữa sông Hồng, xin học nghề nấu chè sắn, chè trôi nước từ một ông cụ già gốc Hàng Bạc. Ông cụ thấy anh siêng năng, thật thà, lại thương cảnh phải nuôi cả gia đình xa quê nên truyền lại cho anh cái bí quyết chọn sắn ngon, cách thắng đường mật sao cho sánh mà không đắng. Những ngày đầu, Nam ngượng ngùng chẳng biết cất tiếng rao làm sao cho vang, có hôm đẩy xe dầm dề dưới mưa cả buổi mà nồi chè vẫn đầy nguyên, tối về lại ngậm ngùi ăn chè thay cơm cho qua bữa.
Rồi anh cũng quen dần. Quen từng góc phố cổ, quen mùi hoa sữa nồng nàn góc đường Nguyễn Du, quen cả tiếng rao “Ai chè sắn nóng nào...” của chính mình đến mức nó trở thành một phản xạ tự nhiên mỗi khi phố lên đèn.
Hôm nay là mùng 9 tháng 10, đêm trước Ngày Giải phóng Thủ đô 10-10. Phố phường rực rỡ hơn bao giờ hết. Người ta đổ ra đường đón không khí lễ hội, mua sắm hoa tươi, chụp ảnh kỷ niệm. Mọi người khuyên anh làm gấp đôi lượng hàng thường lệ: “Đêm nay người ta đi chơi muộn lắm, ráng bán hết, mai là 10-10 rồi, nghỉ một buổi mà đi chơi cho biết Hà Nội mừng lễ ra sao”.
Suốt từ chiều, gánh chè bán rất chạy. Khách ghé ăn từng bát nóng hổi, khói tỏa nghi ngút thơm lừng mùi gừng già và dừa nạo. Đến gần mười giờ đêm, phố vãn khách dần. Những dòng người tấp nập kéo về phía hồ Hoàn Kiếm để chờ xem văn nghệ, bỏ lại những góc phố nhỏ chìm dần vào vẻ trầm mặc vốn có.
Nam đẩy xe dừng lại trước cổng một ngôi nhà cổ trên phố Hoàng Diệu. Anh ngồi xuống bậc đá, xoa hai bàn tay chai sần vào nhau cho bớt cái lạnh hanh hao của gió thu.
Trong thùng chè chỉ còn đúng một bát cuối cùng, lớp đường mật sóng sánh phủ lên những miếng sắn trắng ngần. Nam định bụng tự thưởng cho mình sau một ngày dài mệt nhoài. Anh vừa cầm chiếc muôi nhôm lên thì thấy một bóng người.
Đó là một cụ bà đã ngoài tám mươi, mặc chiếc áo cũ, tay chống chiếc gậy, chậm rãi bước từng bước dọc theo vỉa hè. Cụ bà dừng lại trước cổng ngôi nhà, ngẩng đầu nhìn lên lá cờ vải treo trên ban công tầng hai rất lâu.
- Bà ơi, bà đi đâu muộn thế này ạ? - Nam lên tiếng hỏi, giọng nhẹ nhàng, lo ngại cụ bà bị lạc.
Bà cụ quay lại, nhìn Nam và chiếc xe chè sắn tỏa khói nghi ngút. Cụ mỉm cười, nụ cười hiền hậu:
- Bà đi dạo phố cháu ạ. Cứ mỗi lần đến đêm mùng 9 tháng 10, bà lại không ngủ được. Bảy mươi hai năm rồi, cái cảm giác hồi hộp của đêm trước ngày đoàn quân về vẫn cứ bồi hồi.
Nam khựng lại. Anh nhìn cụ bà, rồi lại nhìn lên ngôi nhà. Cụ tiếp lời, giọng chậm rãi:
- Ngôi nhà này ngày xưa là của gia đình bà. Đêm mùng 9 tháng 10 năm năm tư ấy, cả phố này không ai ngủ. Đàn bà, con gái trong nhà thức suốt đêm bên đèn dầu, gom từng mảnh vải đỏ, vải vàng để may cờ. Sáng hôm sau, khi bộ đội tiến vào qua Cửa Nam, bà cũng được mẹ cho mặc chiếc áo dài đẹp nhất, cầm hoa đứng đón...
Cụ dừng lại, ánh mắt nhìn ra khoảng không vô định.
- Lớp người năm ấy giờ đi gần hết rồi. Căn nhà này giờ thuộc về người khác, nhưng mỗi năm đến ngày này, bà vẫn qua đây để cho đỡ nhớ.
Nam nhìn xuống bát chè sắn nóng hổi trên tay mình, rồi múc bát chè ra chiếc bát sứ trắng nhỏ, bưng lại gần cụ:
- Cụ ơi, đêm lạnh rồi, cụ ăn bát chè sắn cho ấm bụng ạ. Con mời cụ, con không lấy tiền đâu ạ!
Cụ bà ngập ngừng nhìn bát chè tỏa khói thơm phức mùi gừng già, rồi nhìn người thanh niên xóm trọ có gương mặt chất phác và đôi bàn tay chai sạn. Cụ nhận lấy chiếc bát, khẽ gật đầu:
- Cảm ơn cháu. Mùi gừng này thơm quá, giống hệt vị chè mẹ bà hay nấu những ngày Hà Nội mới giải phóng.
Hai người, một cụ bà mang cả một thời ký ức lịch sử của Thủ đô và một người thanh niên ngoại tỉnh đang nhẫn nại mưu sinh ngồi bên nhau trên bậc đá vỉa hè. Cụ bà ăn từng thìa chè nhỏ, chậm rãi kể cho Nam nghe về cái ngày mùng 10 tháng 10 năm 1954 huyền thoại. Ngày mà cả Hà Nội vỡ òa trong nước mắt và hoa cúc vàng. Ngày mà những người lính Trung đoàn Thủ đô trở về sau tám năm kháng chiến, áo trấn thủ sạm màu sương gió nhưng ánh mắt ngời lên niềm hạnh phúc vô bờ.
- Cháu từ quê lên đây lâu chưa? - Cụ bà hỏi sau khi đã ăn xong.
- Dạ, con lên được hơn hai năm cụ ạ. Nhà con dưới quê, vợ bệnh, con nhỏ nên phải đi làm ăn xa.
Cụ bà nhìn Nam, đôi mắt hiền từ đầy thấu hiểu:
- Hà Nội bao nhiêu năm qua vẫn vậy cháu ạ. Người từ khắp nơi đổ về, ai cũng mang theo một nỗi niềm, một gánh nặng riêng. Nhưng cái mảnh đất này lạ lắm, nó dung dưỡng tất cả. Chỉ cần cháu sống lương thiện, chịu thương chịu khó, thì đất này chẳng bỏ rơi ai bao giờ. Ngày xưa các ông các anh hy sinh, chịu khổ cũng là để cho con cháu hôm nay được sống bình yên, được ấm no như thế này.
Nghe cụ nói xong cổ họng Nam chợt nghẹn lại. Lời nói của cụ bà như một dòng nước mát lành tưới vào tâm hồn đang mệt mỏi vì gánh nặng cơm áo gạo tiền của anh.
Có tiếng còi xe ô tô bóp nhẹ. Một người phụ nữ trung niên bước xuống xe, khẽ reo lên:
- Mẹ ơi! Làm con tìm mẹ mãi. Mấy giờ rồi mà mẹ còn ngồi đây thế này!
Cụ bà đứng dậy, vịn vào tay người con gái. Cụ quay lại nhìn Nam, mỉm cười:
- Bà về nhé. Chúc cháu mai bán đắt hàng, sớm tích góp đủ tiền rồi về quê với vợ con.
- Con cảm ơn cụ. Con chúc cụ khỏe mạnh ạ! - Nam đáp, cúi đầu chào.
Anh đứng nhìn theo chiếc xe chở cụ bà lăn bánh khuất sau vệt đèn đỏ cuối phố. Phố lúc này đã về đêm, tĩnh lặng và thanh bình đến kỳ lạ. Gió thu thổi qua làm những lá cờ đỏ sao vàng treo dọc dãy phố tung bay nhịp nhàng.
Anh lấy chiếc điện thoại “cục gạch” ra, bấm số gọi về quê. Tiếng chuông reo vài hồi rồi giọng Huệ bắt máy, ấm áp giữa đêm muộn:
- Alo, anh à? Đêm rồi sao chưa nghỉ?
Rồi anh kể câu chuyện tối nay, không khí những ngày trước đại lễ 10-10. Phía bên kia, tiếng Huệ khẽ sụt sịt thương chồng.
Nam cúp máy, lòng nhẹ nhõm một cách lạ thường, như thể mọi mệt mỏi của những ngày lao động vất vả vừa tan biến theo cơn gió thu. Anh bước tiếp, tiếng bánh xe đẩy lăn nhẹ trên mặt đường. Và trên cao, những lá cờ đỏ sao vàng vẫn tung bay trong gió thu, như một lời hứa hẹn âm thầm rằng qua bao thăng trầm của thời đại, sự bình yên và tình người ở mảnh đất này vẫn luôn vẹn nguyên, sưởi ấm cho tất cả những ai đang sống và hy vọng.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.