Kết quả nghiên cứu khoa học chỉ thực sự phát huy giá trị khi được ứng dụng vào sản xuất, đời sống. Dù đã có những mô hình hợp tác hiệu quả giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp, việc đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm ra thị trường vẫn gặp nhiều trở ngại. Nút thắt nằm ở cách đặt hàng, cơ chế tài chính, quản trị rủi ro và phân chia lợi ích giữa các bên.

Từ mô hình hiệu quả đến những khoảng trống cần lấp đầy
Sau 3 năm triển khai, quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá nâu của Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế phối hợp với các cơ sở, doanh nghiệp đã sản xuất được 775.000 con cá giống, đạt sản lượng 5,55 tấn cá thương phẩm. Một kết quả khác là quy trình sản xuất chế phẩm sinh học Bokashi trầu phục vụ vùng nuôi tôm an toàn ở đầm phá Tam Giang - Cầu Hai được chuyển giao cho Công ty TNHH Happy Food Đồng Nai theo hợp đồng trị giá 600 triệu đồng. Theo PGS.TS. Đỗ Thị Xuân Dung, Phó Giám đốc Đại học Huế, trong giai đoạn 2021-2025 và 6 tháng đầu năm 2026, Đại học Huế thực hiện 47 hợp đồng chuyển giao công nghệ, tư vấn và dịch vụ, với tổng doanh thu hơn 6 tỷ đồng.
Tại Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), TS. Nguyễn Văn Tư - Viện trưởng VPI cho biết, sự phối hợp giữa nhà nghiên cứu và doanh nghiệp cũng đem lại kết quả cụ thể. VPI phát triển hóa phẩm tăng cường thu hồi dầu VPI SP tại mỏ Bạch Hổ; Liên doanh Vietsovpetro tham gia xây dựng phương án, tổ chức bơm ép thử nghiệm 100 tấn hóa phẩm tại giếng 1609, giàn BK-16 và theo dõi kết quả. Sau 6 tháng, lượng dầu gia tăng đạt khoảng 2.700 tấn.
Tuy nhiên, không phải sản phẩm có triển vọng nào cũng sẵn sàng thương mại hóa. Theo TS. Nguyễn Văn Tư, thiết bị Mini-ROV phục vụ khảo sát, kiểm tra công trình dưới nước do VPI phối hợp với Vietsovpetro và Đại học Bách khoa Hà Nội phát triển đã được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, trong bể và ngoài khơi, với độ sâu làm việc đến 80m. Chi phí thiết bị được ước tính thấp hơn 50-60% so với sản phẩm nhập ngoại cùng phân khúc. Dù vậy, thiết bị vẫn cần tiếp tục hoàn thiện độ tin cậy, tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng bảo trì và mô hình sản xuất, cung ứng dịch vụ.
Trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), hợp tác giữa Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) và Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy hiệu quả khi doanh nghiệp tham gia đặt bài toán từ đầu. Theo ông Nguyễn Vũ Hà, Phó Tổng Giám đốc Viettel, ba nhiệm vụ năm 2026 về trợ lý lập trình trí tuệ nhân tạo, mô hình ngôn ngữ lớn chuyên ngành viễn thông và tối ưu tài nguyên tính toán cho nền tảng AI đều hoàn thành đúng tiến độ, đạt và vượt chỉ tiêu kỹ thuật, được ứng dụng trong các hệ thống của Tập đoàn.

Các trường hợp trên cho thấy liên kết có thể tạo ra kết quả khi nhu cầu ứng dụng, năng lực nghiên cứu và điều kiện thử nghiệm được kết nối. Nhưng từ một kết quả thử nghiệm đến sản phẩm đủ điều kiện sản xuất, cung ứng trên thị trường vẫn là chặng đường dài.
Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định, trên chặng đường ấy có những điểm nghẽn nổi bật là: Nghiên cứu chưa xuất phát từ nhu cầu ứng dụng; cơ chế khai thác, định giá kết quả nghiên cứu còn khiến một số viện, trường lo ngại; thiếu đầu mối chuyển giao chuyên nghiệp; năng lực tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế; ngân sách chưa gắn chặt với điều kiện và kết quả hợp tác. Hiệu quả liên kết vẫn có nguy cơ được nhìn nhận qua số nhiệm vụ, biên bản ghi nhớ thay vì mức độ ứng dụng và giá trị tạo ra.
Đặt hàng từ nhu cầu thực tế, bảo đảm nguồn lực đến cùng

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho biết, hiện nay, chính sách đã có những cơ chế hỗ trợ đáng kể. Với nhiệm vụ nghiên cứu công nghệ chiến lược do Nhà nước đặt hàng, doanh nghiệp có thể được hỗ trợ 100% kinh phí theo quy định; chi phí cho lần thử nghiệm đầu tiên đối với công nghệ chiến lược cũng được hỗ trợ 100%. Tuy nhiên, việc phổ biến chính sách đôi khi chưa hiệu quả, khiến doanh nghiệp, nhà khoa học, viện nghiên cứu và trường đại học chưa tiếp cận đầy đủ các cơ chế hỗ trợ. Bên cạnh đó, tâm lý ngại rủi ro, sợ trách nhiệm vẫn khiến một số đơn vị chưa mạnh dạn triển khai. Vì vậy, tháo gỡ điểm nghẽn cần bắt đầu từ việc thay đổi cách tổ chức hợp tác.
Thay vì nghiên cứu xong mới tìm doanh nghiệp, các bên cần xác định bài toán ứng dụng ngay từ đầu. Doanh nghiệp nêu nhu cầu, yêu cầu kỹ thuật và hiệu quả mong muốn; viện nghiên cứu, trường đại học cùng xây dựng nhiệm vụ, lộ trình phát triển và phương án kiểm chứng. Nhà nước đặt hàng, hỗ trợ nguồn lực theo mục tiêu và kết quả đã xác định.

Viettel đề xuất mô hình “Doanh nghiệp đặt bài toán – Nhà nước đặt hàng – Viện, trường nghiên cứu – Doanh nghiệp ứng dụng”. Theo ông Nguyễn Vũ Hà, doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xác định bài toán, xây dựng nhiệm vụ đến đánh giá kết quả. Đồng thời, cần có cơ chế giao đơn vị đủ năng lực dẫn dắt chương trình công nghệ chiến lược, chịu trách nhiệm về tiến độ, tích hợp công nghệ, sản phẩm và phương án ứng dụng.
Đặt hàng đúng nhu cầu là điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Một công nghệ có triển vọng vẫn cần kinh phí để hoàn thiện, thử nghiệm ở quy mô phù hợp, kiểm định, chứng nhận và phát triển thị trường. PGS.TS. Đỗ Thị Xuân Dung kiến nghị xây dựng chương trình tài trợ theo chuỗi, từ nghiên cứu ứng dụng đến sản xuất thử nghiệm và thương mại hóa; đồng thời triển khai cơ chế đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, ưu tiên nhiệm vụ có yêu cầu kỹ thuật rõ ràng, địa chỉ ứng dụng và cam kết tiếp nhận.
Việc sử dụng chung phòng thí nghiệm, cơ sở thử nghiệm và hạ tầng nghiên cứu cũng cần được đẩy mạnh, giúp doanh nghiệp giảm chi phí kiểm chứng công nghệ. Cùng với nguồn lực, cơ chế quản trị rủi ro phải rõ ràng. Đại học Huế đề nghị có hướng dẫn thống nhất về đánh giá kết quả khi phát sinh rủi ro công nghệ, xác định trước các mốc đánh giá, tiêu chí kỹ thuật và phương án xử lý, gắn với trách nhiệm giải trình của tổ chức chủ trì. Viện Dầu khí Việt Nam cũng kiến nghị đánh giá theo từng mốc kiểm chứng để quyết định tiếp tục hoàn thiện, mở rộng thử nghiệm hay điều chỉnh phương án nghiên cứu. Cách làm này giúp xử lý rủi ro trên cơ sở kết quả thực tế, thay vì để tâm lý e ngại cản trở đổi mới sáng tạo.

Một vấn đề khác cần được thống nhất ngay từ đầu là quyền sở hữu, định giá, chuyển giao và phân chia lợi ích. Đại học Huế kiến nghị hoàn thiện hướng dẫn về các nội dung này giữa tổ chức nghiên cứu, nhà khoa học và doanh nghiệp. Viện Dầu khí Việt Nam cũng đề xuất thỏa thuận rõ quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả, trách nhiệm đầu tư hoàn thiện và cách phân chia lợi ích theo đóng góp của từng bên. Khi quyền lợi và trách nhiệm chưa minh bạch, viện, trường có thể e ngại khai thác tài sản trí tuệ, còn doanh nghiệp thiếu cơ sở để quyết định đầu tư.
Liên kết “3 nhà” chỉ thực sự tạo chuyển biến khi doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu đặt hàng, viện nghiên cứu và trường đại học đồng hành trong quá trình hoàn thiện công nghệ, còn Nhà nước tháo gỡ các rào cản về cơ chế và nguồn lực. Hiệu quả hợp tác không thể chỉ đo bằng số nhiệm vụ có doanh nghiệp tham gia, mà phải được thể hiện qua mức độ doanh nghiệp cùng đầu tư, thử nghiệm, tiếp nhận và đưa công nghệ vào ứng dụng thực tế. Khi xuất phát từ nhu cầu của thị trường, có nguồn lực bảo đảm xuyên suốt và cơ chế phân chia lợi ích minh bạch, kết quả nghiên cứu mới có thể đi từ phòng thí nghiệm đến sản xuất, góp phần nâng cao năng lực công nghệ trong nước.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.