(HNM) - Chờ đợi mãi rồi cũng đến một sớm mai tôi xuôi đò sông Đáy. Về tới gần Phương Trung mới hay mái đền làng Chuông đã lấp ló đầu làng. Cô bé gầy guộc lái đò cùng cha nghiêng nghiêng vành nón nhìn tôi với con mắt to tròn như muốn nói điều gì đó. Tôi định giơ máy ảnh chụp thì cô bé nhoẻn cười rồi đỏ mặt quay đi.
Tiếc cho một giây lát bất chợt lạ lùng ấy vụt mất. Đây là một chuyến đò chở lá cọ về làng Chuông. Dường như người cha không hay biết điều gì về giây phút giao cảm bằng mắt và nụ cười giữa tôi và cô bé mà chỉ nhắc các chủ hàng chuẩn bị lên bờ. Nhìn từng tốp người tấp nập trên đê, tôi hỏi phiên chợ Chuông hôm nay sao đông thế, thì ông cười nói:
- Tết đến nơi rồi mà anh. Khách các ngả đổ về đây mua nón đi lễ hội. Quê tôi mà làm nón Ba Tầm thì không đâu bằng.
Tôi quay lại hẹn cô bé tan chợ đón đò về, rồi vội vã lên bờ, đi theo những gánh lá bềnh bồng trên sườn đê dẫn về chợ Chuông. Dường như có một thời gian dài mọi người chỉ nhắc đến chiếc nón Huế bài thơ. Tôi nhớ như in hồi còn bé, mẹ tôi đi phố Hàng Nón ở tận Hà Nội về khoe với mọi người cái nón Huế mỏng tang có in hình chùa Thiên Mụ và hai dòng thơ, lung linh dưới ánh nắng mặt trời. Tôi ngắm bức ảnh mẹ tôi đội nón Huế sao mà đẹp đến vậy. Ấy thế rồi, lớn lên khi là một sinh viên trường văn hóa, tình cờ tôi đọc được câu ca dao:
"Muốn ăn cơm trắng cá trê
Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông"
Vậy là nón làng Chuông đã đánh thức ấn tượng về một chiếc nón mà tôi đã từng biết từ khi mẹ tôi đội chiếc nón Huế. Nón làng Chuông như khơi gợi tôi điều gì đó xa xôi lắm, nhất là khi tôi đã có dịp ngắm hình chiếc nón mà các nghệ nhân xưa đã khắc trên chiếc thạp đồng cách đây ba nghìn năm, được trưng bày trong Viện Bảo tàng lịch sử. Cái đẹp của nón Huế như một nốt son kỳ thú của tuổi thơ, thì nón làng Chuông như một sự mách bảo nào đó hướng vềcội nguồn của một nét văn hóa đặc trưng của đất Việt.
Và thật đặc biệt khi biểu tượng chiếc nón khổng lồ được bày trước cửa Hội nghị APEC diễn ra ở Thủ đô Hà Nội thì hình ảnh chiếc nón lại làm sống dậy trong tôi một nét biểu trưng rất ấn tượng mà tôi nhớ mãi từ khi còn bé. Lại nghe nói chiếc nón khổng lồ này do các nghệ nhân làng Chuông làm để trưng bày trước hàng ngàn khách quốc tế. Vì sao cái hình chóp giản đơn ấy lại tạo hình tượng mạnh mẽ đến vậy. Phải chăng đó là những lá sen, lá cọ, lá buông... che trên đầu những bà con nông dân, giờ đây trở thành chiếc nón và chúng tạo nên một nét văn hóa đặc trưng của một nền văn hóa lúa nước bao đời nay. Tôi thấp thỏm về với làng Chuông cũng bởi những nhịp đập bồi hồi như vậy. Tôi đi mà cứ vấp vào những cọng cỏ khô và lùa chân vào những cụm bông cỏ may trên sườn đê.
Gặp chị Doan ở một xóm gần chợ mới hay để làm nên chiếc nón làng Chuông phải nhờ đến công sức của những làng xung quanh hoặc nhờ tới những vùng, miền xa xôi khác. Chị kể, nào là làng Lưa làm khuôn nón, làng Trường Xuân vót vành nón, làng Dầu Tế làm sợi guột để khâu nón. Ấy là chưa nói đến lá nón làm từ lá lụi, lá cọ cũng phải mua từ Phú Thọ, Quảng Bình, Hà Tĩnh cơ chứ làng Chuông chỉ giỏi chuốt lá và khâu nón. Cái khác ở làng Chuông là nghĩ ra mẫu theo đơn đặt hàng rồi cứ vậy mà cả làng ngày đêm bận rộn với đường kim sợi móc. Có thể nói chiếc nón là một sản phẩm văn hóa mang tính cộng đồng cao trong đời sống dân sinh. Cứ tưởng cả đám trẻ con lít nhít ở nhà chị làm ăn chăm chỉ thế thì giàu to, nhưng chả phải, chị Doan kể: Cả ngày, mỗi người chỉ làm được 2 chiếc nón, lãi độ mươi ngàn.
Tôi phải giấu sự ngạc nhiên mà ngậm ngùi lảng sang chuyện khác, bởi lẽ với giá công rẻ rúng thế thì chỉ yêu nghề lắm họ mới làm. Quả vậy, chị kể rằng ở làng chỉ có cơ sở sản xuất của nhà anh Tuy và cô Hương mới gọi là làm ăn lớn, năng nhặt chặt bị, bởi họ thu gom được nón của hàng trăm hộ xuất đi các tỉnh và cả nước ngoài nữa. Chứ còn dân trong làng chỉ làm kiếm thêm ngoài công việc đồng áng để đủ sống và giữ lấy cái nghề mà thôi. Rồi chị nói làng Chuông giờ chỉ có các nghệ nhân lớn tuổi mới giỏi nghề làm nón lễ hội, tức là các loại nón cổ cho nam thanh nữ tú đi hội, như các cụ Canh, cụ Ngân, cụ Cát...
Lần hồi tìm đến nhà cụ Canh, người làm chiếc nón lớn làm mẫu đi dự triển lãm quốc tế ở Cộng hòa Séc và CHLB Đức vào cái đận 2001, tôi mới ngạc nhiên hơn vì cụ là một thương binh hỏng một chân trở về làng và nổi danh về nghề làm nón cổ. Một cụ già ở tuổi 80 mà vẫn sống chết để khôi phục làng nghề truyền thống như thế quả là kỳ lạ. Chính vì có các cụ khéo tay và giữ gìn cái nghề của làng như cụ Viết, cụ Canh, cụ Ba, cụ Hai Cát... nên mới có các trò giỏi như anh Tuy, chị Hương. Vậy nên mới có chiếc nón khổng lồ của làng Chuông do cơ sở sản xuất Hùng Hương của chị Hương làm tạo nên biểu trưng cho dân tộc trước Hội nghị thượng đỉnh APEC 2006. Chị Hương còn tự hào nói:
- Xưa, nón làng Chuông đã từng cung tiến để hoàng hậu, công chúa dùng. Không lẽ nào lớp con cháu lại làm mất đi cái nghề đã tồn tại hơn 500 năm nay.
Gặp được anh Tuy thật khó, bởi anh là "trùm" mẫu nón của cái làng này. Anh đi nhiều nơi để tìm nguồn mua và đặt hàng theo mẫu. Anh là người khéo tay và khâu nón vào loại đẹp nhất làng, rồi sau đi thành lập một tổ hợp và trở thành ông chủ nón nổi tiếng một vùng. Anh kể có tháng gia đình anh xuất 10 vạn chiếc nón. Làng Chuông cứ như vào cơn hội nhập vậy. Các tổ hợp, các hội hàng nón, các cơ sở sản xuất tập trung ra đời theo cơ chế thoáng đã tạo một không khí tất bật ở cái làng nghề này. Anh Tuy khoe:
- Chúng tôi không chỉ sản xuất những chiếc nón quai thao cổ mà còn có thể làm các mẫu khác như nón lòng chảo, nón Hồng Công, nón Thái, nón chóp dứa...
Theo như dân làng kể thì hầu như nón quai thao của làng đều cấp cho các lễ hội quan họ ở Bắc Ninh hằng năm. Ấy là chưa kể các đoàn văn công ở khắp nơi đều về đặt hàng ở xứ Chuông này. Hỏi chị Doan vì sao nón làng Chuông lại được nông dân các tỉnh ở Đồng bằng Bắc bộ thích dùng thì chị nói ngay:
- Vì nó bền và đẹp.
Khi nhắc tới nón Huế thì chị nhanh nhảu:
- Cũng đẹp nhưng chỉ ưa nắng. Nếu mưa dễ hỏng vì chỉ có một lớp lá. Khó hợp với điều kiện làm ruộng của nông dân.
Nghe có lý, thảo nào khi chị mô tả tỉ mỉ các công đoạn làm nón của làng Chuông đặc biệt ở chỗ giữa hai lớp lá được làm trắng và bền là lớp mo tre cẩn thận và kín đáo rồi mới đến công đoạn khâu, mới thấy sự kỳ công của từng người thợ. Tôi ngắm những bàn tay nhỏ xíu của hai cháu Linh và Anh khâu nón nhanh thoăn thoắt, rồi hỏi cháu Anh:
- Mỗi vành nón cháu có tính bao nhiêu lần rút kim, xỏ chỉ không?
Cháu cười lắc đầu. Tôi đếm 16 vòng nón kể cả vành nón thì mới ước tính ít nhất mỗi người phải xỏ kim rút chỉ tới hàng ngàn lần để hoàn thành một chiếc nón. Hai cháu cứ mê mải làm chả chú ý gì đến ai ngoài chiếc vành nón được kê nhẹ trên những ngón chân để làm điểm tựa. Bởi lẽ nếu khâu chậm trời chóng tối lắm, tháng mười mà, phải kịp để mai còn có nón cho mẹ đi chợ phiên sớm.
Chợ Chuông cũng là một chợ cổ hàng trăm năm nay. Mặc dù chợ có nhiều loại hàng hóa, nhưng vào các phiên chính ngày 4, ngày 10 thì chỉ rặt là nón. Khách buôn ở xa về cất hàng trăm chiếc nón. Còn các chủ hàng quanh vùng đều đến đặt những nón hàng đẹp. Chả vậy, mỗi phiên chợ ước chừng hàng bán tới 7.000 chiếc nón. Chợ Chuông thật chiều khách, đủ loại, ít tiền thì 2.500 đồng một cái cũng có, mà nón đẹp, đến mức giá cao tới 70.000 đồng một cái cũng nên. Chợ không ồn ào nhưng mà vui vì vây quanh chiếc nón là những nụ cười.
Lang thang trong chợ cho đến khi vãn phiên. Tôi tần ngần trong tiếng cười xôn xao vương lại từ các xóm ngõ. Và những hình ảnh chiếc nón cứ lung linh đung đưa trên không trung. Những bóng nón che trên đầu tôi như một tàu lá sen xanh mát. Cứ thế tôi đi ra bên sông dưới những vành nón tưởng tượng ấy và biết rằng ở bến đò trên sông Đáy kia có một cô bé cũng đội nón đang chờ...
Vương Tâm
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.