Làm sạch mã số thuế không chỉ là đưa doanh nghiệp “bỏ quên” nghĩa vụ về đúng trạng thái trên hệ thống, mà còn phải tháo những nút thắt khiến họ không thể rút lui khỏi thị trường. Khi thực tế kinh doanh đã thay đổi, quy định cũng cần đủ linh hoạt để không biến một thất bại kinh doanh thành gánh nặng kéo dài.
Những khoảng trống bộc lộ từ quá trình làm sạch mã số thuế
Những ngày gần đây, các khoản tiền phạt, tiền chậm nộp phát sinh khi chấm dứt hiệu lực mã số thuế đang thu hút sự quan tâm của dư luận. Vấn đề đặt ra là cách xử lý với những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động thực tế nhiều năm nhưng chưa hoàn tất thủ tục pháp lý, khiến các nghĩa vụ tiếp tục tích tụ và việc “đóng lại” doanh nghiệp trở nên khó khăn.

Lấy ví dụ cụ thể về bất cập này, bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam dẫn chứng một trường hợp được ghi nhận là doanh nghiệp chấm dứt hoạt động từ năm 2013 nhưng đến tháng 8-2026 mới làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Tổng số tiền được thông báo phải nộp là 61 triệu đồng, gồm tiền phạt chậm nộp tờ khai thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, lệ phí môn bài từ năm 2013 đến năm 2025 và tiền chậm nộp.
Trường hợp này đặt ra vấn đề lớn hơn trong chiến dịch làm sạch mã số thuế: có nên xử lý giống nhau một doanh nghiệp cố tình bỏ trốn, trốn thuế với một doanh nghiệp đã thất bại và ngừng hoạt động thực tế nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể?
Trách nhiệm của người nộp thuế là điều không thể phủ nhận. Khi ngừng kinh doanh, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục tạm ngừng hoặc giải thể. Việc bỏ địa chỉ kinh doanh mà không hoàn tất thủ tục khiến doanh nghiệp tiếp tục tồn tại trên hệ thống là sai sót của chủ doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến tình trạng này rất khác nhau. Có doanh nghiệp cố tình mua bán hóa đơn, trốn thuế, giả mạo thông tin hoặc bỏ trốn. Nhưng cũng có doanh nghiệp nhỏ thất bại trong kinh doanh, không còn doanh thu, dòng tiền; chủ doanh nghiệp thiếu hiểu biết pháp luật hoặc không còn đủ khả năng tài chính để xử lý hồ sơ.
Nếu “cào bằng” các trường hợp này, chính sách có thể tạo ra hệ lụy không cần thiết.
Cục Thuế cho biết sẽ nghiên cứu, trình Bộ Tài chính, Chính phủ và Quốc hội xây dựng quy định về cơ chế tháo gỡ đối với người nộp thuế đang ở trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03) và không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký (trạng thái 06).
Đây là tín hiệu cho thấy những vướng mắc phát sinh trong thực tế đã cần được giải quyết bằng một cơ chế phù hợp hơn.
Nhìn từ góc độ pháp lý, Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc hãng luật TGS cho rằng: Trường hợp doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm nhưng đến khi “khai tử” lại phải bỏ ra khoản tiền lớn phản ánh một vấn đề cần được nhìn nhận cả về pháp lý và quản lý hành chính.
Theo Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, cần phân biệt nghĩa vụ thuế thực tế với các nghĩa vụ phát sinh do doanh nghiệp không hoàn tất thủ tục trong thời gian dài. Không nên mặc nhiên coi toàn bộ khoản tiền phải nộp là tiền phạt cho toàn bộ thời gian doanh nghiệp không hoạt động, bởi pháp luật có quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
Điều đáng bàn là tại sao một doanh nghiệp đã không còn hoạt động thực tế lại có thể để tình trạng này kéo dài nhiều năm mà không được cảnh báo, xử lý sớm. Nếu doanh nghiệp “chết” về mặt kinh doanh nhưng vẫn tồn tại trên hệ thống, cả cơ quan quản lý và người nộp thuế đều phải tiếp tục dành nguồn lực cho một chủ thể gần như không còn hoạt động.
Cần cơ chế phân loại và một lối ra thực tế
Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, cần nhìn thẳng vào hoàn cảnh của những người kinh doanh thất bại. “Những người kinh doanh thất bại, có vấn đề thì công ty mới ngừng kinh doanh, nên chủ doanh nghiệp đã ở trạng thái tài chính nhiều khi không được tốt”, ông Tuấn nói.
Theo ông Lê Văn Tuấn, lỗi của chủ doanh nghiệp là điều không thể phủ nhận, nhưng nguyên nhân khiến doanh nghiệp dừng hoạt động không chỉ xuất phát từ chủ doanh nghiệp. Vì vậy, cách xử lý cũng cần căn cứ thực tế.
Một trong những vấn đề cần xem xét là lệ phí môn bài. Với doanh nghiệp đã thực tế không còn hoạt động, việc tiếp tục tính khoản này qua nhiều năm có thể làm tăng gánh nặng và khiến thủ tục chấm dứt mã số thuế càng khó khăn.
Bà Nguyễn Thị Cúc đề xuất phân loại người nộp thuế để xử lý. Với doanh nghiệp “ma”, mua bán hóa đơn, trốn thuế hoặc giả mạo thông tin để thành lập doanh nghiệp, cần xử lý nghiêm. Nhưng với doanh nghiệp đã ngừng hoạt động thực tế, không phát sinh doanh thu, chi phí, không nợ thuế và không có dấu hiệu gian lận, có thể nghiên cứu không truy thu lệ phí môn bài, tiền chậm nộp và không xử phạt chậm nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian không hoạt động.
Đối với các khoản thuế gốc còn nợ trước khi dừng hoạt động, cần thu đủ. Tuy nhiên, với trường hợp không có dấu hiệu gian lận, có thể nghiên cứu giới hạn thời gian tính tiền chậm nộp để doanh nghiệp có điều kiện sớm hoàn tất thủ tục.
Về lâu dài, ông Lê Văn Tuấn cho rằng, cần rút gọn, đơn giản hóa quy trình giải thể. Doanh nghiệp đã thực sự chấm dứt hoạt động cần có một con đường pháp lý rõ ràng để đóng lại hồ sơ, thay vì để thủ tục phức tạp khiến chủ doanh nghiệp lựa chọn bỏ mặc.
Cùng với đó, cần tăng cường cơ chế cảnh báo sớm. Khi doanh nghiệp bắt đầu chậm nộp tờ khai hoặc có dấu hiệu không còn hoạt động, cơ quan quản lý cần chủ động thông báo cho người đại diện pháp luật. Xử lý ngay từ đầu sẽ hiệu quả hơn nhiều so với để nghĩa vụ kéo dài hàng chục năm rồi mới giải quyết.
Có thể nghiên cứu thêm cơ chế chủ động xử lý những doanh nghiệp nhiều năm không phát sinh hoạt động, đáp ứng điều kiện nhất định và không có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng. Cách làm này vừa giảm số lượng mã số thuế “treo”, vừa tiết kiệm nguồn lực quản lý.
Mục tiêu của chiến dịch làm sạch mã số thuế vì vậy không nên chỉ là đưa dữ liệu về đúng trạng thái. Quan trọng hơn là xác định đúng doanh nghiệp cần xử lý nghiêm, doanh nghiệp cần hỗ trợ và nghĩa vụ nào thực sự phải thu.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.