Đã 51 năm kể từ 30-4-1975 - ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc - Nam sum họp một nhà, nhưng ký ức về những năm tháng “cả nước lên đường ra trận” vẫn còn in đậm trong tâm trí những người lính trẻ năm xưa. Những câu chuyện về “một thời hoa lửa” không chỉ tái hiện lịch sử mà còn nhắc nhớ cho các thế hệ hôm nay và mai sau về giá trị của hòa bình - thứ được đánh đổi bằng biết bao xương máu của thế hệ cha anh.

Nhà báo, nhà thơ Đặng Huy Giang:

Điều quý giá nhất là được sống trong một đất nước yên bình
Tôi nhập ngũ năm 1973, ngay khi vừa thi xong lớp 10, lúc đó vừa đủ 18 tuổi. Hồi ấy, lứa học sinh Hà Nội chúng tôi, hầu như ai cũng xác định thi xong thì đi bộ đội, để nếu may mắn trở về sẽ tiếp tục việc học tập. Tôi thuộc đơn vị Trung đoàn 1 - Đoàn Hậu Giang và cũng là một trong những người Hà Nội đầu tiên có mặt tại đơn vị. Chúng tôi khi ấy đều rất trẻ, phần lớn mới 18 - 20 tuổi, mang theo nhiệt huyết với tâm thế sẵn sàng chiến đấu vì Tổ quốc.
Thời đó, bộ đội thiếu thốn đủ bề, ăn sắn thay cơm, muối rang thay nước mắm... Chúng tôi vốn là những thanh niên quen với cuộc sống thành phố, nay phải bước vào rừng sâu, tập hành quân, tập ngủ võng, tập sống với thiên nhiên nên ai cũng bỡ ngỡ. Đêm đầu tiên nằm võng, tôi không ngủ được vì đau lưng, lâu dần rồi cũng quen.
Vào Nam chiến đấu là một hành trình dài. Từ miền Bắc, đơn vị chúng tôi đi tàu vào Nghệ An - Hà Tĩnh rồi tiếp tục đi ô tô vào Quảng Bình. Từ đó trở đi là hành quân bằng đường bộ, men theo đường Trường Sơn, đi qua biên giới Lào, rồi sang biên giới Campuchia để vào miền Nam. Mỗi người không thể mang đủ lương thực cho cả chặng đường nên cứ đến trạm giao liên lại nhận gạo, nghỉ ngơi rồi đi tiếp. Đêm ngủ võng, dựng tăng giữa rừng, chỉ cần có hai cái cây là thành một chỗ nghỉ. Rau rừng có gì ăn nấy, có những loại như rau tàu bay, rất chát nhưng vẫn phải ăn để sống. Đến Đông Nam Bộ thì đơn vị tôi nhận được quyết định chuyển sang miền Tây Nam Bộ.
Phải mất gần 8 tháng, từ tháng 1-1973 đến tháng 9-1973, chúng tôi mới vào đến chiến trường Tây Nam Bộ. Cuối năm 1974, chúng tôi được quán triệt sẽ có những trận đánh lớn trong năm 1975, nhưng đa số đều xác định cuộc chiến còn kéo dài, có thể thêm 5 - 10 năm nữa mới giành thắng lợi. Chính vì vậy, tâm thế chung của chúng tôi là chuẩn bị cho một cuộc chiến lâu dài, gian khổ hơn nữa.
Ngày 1-5-1975, miền Tây Nam Bộ mới được giải phóng. Trước đó, đêm 30-4 đơn vị tôi hành quân vào sát căn cứ Long Hồ (một huyện cũ của tỉnh Vĩnh Long), sẵn sàng đợi lệnh là đánh. Nhưng rồi tin Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng đến rất nhanh và phía đối phương đồng loạt bắn từng loạt súng lên trời như một cách quyết định giã từ vũ khí.
Sau đó, đơn vị tôi được lệnh tiến vào tiếp quản Vĩnh Long. Khi vào đến nơi, chính quyền Sài Gòn đã tự giải thể và rút đi hết, trụ sở bỏ trống. Người dân nơi đây rất cởi mở, tình cảm. Có người còn chủ động bắt chuyện, hỏi han. Khi biết tôi là bộ đội miền Bắc, họ chỉ hỏi: “Bây giờ chúng tôi sẽ ra sao?”. Tôi chỉ nói với họ rằng miền Nam đã được giải phóng, mọi người có thể yên tâm làm ăn.
Người dân cũng rất quý bộ đội. Người thì nấu cơm cho chúng tôi ăn, người thì sẵn sàng dẫn đường, giúp đỡ. Tôi còn nhớ có những hãng nước ngọt mang cả thùng ra tặng bộ đội. Không khí lúc đó vừa lạ lẫm, vừa ấm áp, khác xa với những gì tôi từng hình dung về một vùng vừa trải qua chiến tranh.
Sau chiến tranh, tôi trở về Hà Nội, tiếp tục học tại Đại học Tổng hợp (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), rồi làm báo. Nhưng ký ức về những năm tháng ấy thì không bao giờ phai.
Tôi làm thơ từ khi còn trẻ, nhưng phải đến sau này mới có điều kiện học hỏi và viết một cách bài bản. Những bài thơ về người lính, về ngày 30-4 với tôi không chỉ là cảm xúc, mà còn là cách để ghi lại một phần đời đã đi qua. Những ký ức ấy theo tôi suốt cuộc đời và cũng đi vào thơ. Tôi từng viết:
“Ngày ấy, chúng mình mười tám
Súng trên vai, đi giữa rừng già
Chưa kịp hiểu hết về cái chết
Đã đi qua gần hết tuổi hoa”.
Bây giờ nhìn lại, tôi vẫn nghĩ cuộc kháng chiến chống Mỹ là một điều vĩ đại vì những hy sinh quá lớn lao. Từng tấc đất giành lại đều phải đánh đổi bằng xương máu. Chúng tôi đã đi qua thời đó và điều quý giá nhất bây giờ không chỉ là ký ức chiến thắng mà còn là được sống trong một đất nước yên bình.
Nhà văn Vũ Công Chiến:

Viết sách như là một cách để tri ân đồng đội
Năm 1971, khi có lệnh Tổng động viên, tôi vừa học xong phổ thông liền lên đường nhập ngũ. Đầu năm 1972, đơn vị tôi được điều sang chiến trường Lào, thuộc phiên chế Sư đoàn quân tình nguyện 968 Việt - Lào. Đầu năm 1974, trung đoàn tách khỏi Sư đoàn 968, chuyển về Sư đoàn 320A khi đó đang “đứng chân” ở Tây Nguyên. Tôi theo sư đoàn này chiến đấu cho đến hết năm 1975.
Thời kỳ ở chiến trường B3 (Tây Nguyên), bom đạn ác liệt nên lương thực, thực phẩm ở hậu phương chở vào, ở trong đưa ra nhiều khi không đến nơi nên chúng tôi thường rơi vào cảnh đói. Có những thời điểm tiêu chuẩn ăn mỗi ngày chỉ được một khúc sắn dài khoảng 20cm... Có những hôm lên chốt, mưa rơi suốt đêm. Ở cao nguyên đất đỏ, mỗi khi mưa xuống đất rất dễ xúc bằng cái xẻng con, nhưng khi nhấc lên lại không thể hất ra, phải dùng tay cào. Đào hầm hào trong đêm không trăng, không sao, cúi xuống là không nhìn thấy gì, tất cả chỉ lần bằng tay. Lắm lúc đào nửa chừng mệt quá, ngồi nghỉ và ước giá có cây rơm để chui vào đấy ngủ thì hạnh phúc biết bao. Nhưng rồi lại nghĩ: Nếu mình chui vào đống rơm ấy thì ai đi bộ đội thay mình?
Sau chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn 320A thần tốc tiến xuống đồng bằng, hướng về Sài Gòn. Rạng sáng ngày 29-4-1975, đơn vị tôi đánh căn cứ Đồng Dù (Củ Chi). Lúc đó tôi là Trung đội trưởng, chỉ huy một trung đội bộ binh khoảng 15 người. Địch sử dụng DKZ và đại liên M60 bắn ra từ các lô cốt nhắm vào bất cứ mục tiêu nào còn cử động trên mặt đất. Lại thêm một chiếc xe tăng M48 chạy dọc sau bờ tường đất bắn ra khiến bộ đội ta bị chặn lại khi đem bộc phá lên phá hàng rào mở cửa. Rất nhiều chiến sĩ đã hy sinh. Khi xung phong đột kích, chạy dọc đường lên cửa mở, nhìn thấy xác anh em nằm la liệt dọc hai bên mà quặn lòng đau xót...
Bây giờ đã nghỉ hưu, tôi viết sách như là một cách để tri ân đồng đội. Tôi muốn kể cho mọi người bởi vì tôi là người trong cuộc. Nếu người trong cuộc không kể ra thì người ngoài không biết được. Từ quyển đầu tiên đến nay, tôi đã viết được 10 cuốn sách. Năm 2017, Hội Văn học Nghệ thuật Trường Sơn được thành lập và tôi là một thành viên sáng lập. Tháng 3 năm nay, tôi được bầu làm Phó Chủ tịch Chi hội Văn học Nghệ thuật Trường Sơn của Hà Nội.
Mỗi trang viết đối với tôi không chỉ là ký ức, mà còn là một nén hương lòng gửi tới những người đã nằm lại. Có những câu chuyện tưởng chừng đã ngủ yên, nhưng chỉ cần chạm tới là sống dậy nguyên vẹn, với tiếng bom, mùi đất ẩm và cả những gương mặt đồng đội chưa kịp già. Tôi viết chậm, viết kỹ, bởi sợ rằng nếu mình sơ sẩy, một chi tiết nhỏ cũng có thể làm nhạt đi sự thật của chiến tranh.
Niềm vui lớn nhất không phải là số lượng sách đã in, mà là khi có người đọc, đặc biệt là người trẻ, nói rằng họ hiểu hơn về một thời đã qua. Khi ấy, tôi tin rằng những hy sinh không bị lãng quên, và những trang viết của mình đã phần nào làm tròn một lời hứa với đồng đội.
Bác sĩ Lê Ngọc Báu:

Mong thế hệ trẻ hôm nay biết trân trọng hòa bình
Ngày 6-9-1971, khi có lệnh Tổng động viên, tôi khi đó đang là sinh viên năm thứ 2 Trường Đại học Y Hà Nội đã “xếp bút nghiên lên đường chiến đấu” như bao sinh viên miền Bắc.
Thời gian chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị trong ký ức của tôi là chuỗi ngày “mưa bom, bão đạn” ác liệt. Khi đơn vị vượt sông Thạch Hãn vào Thành cổ, giữa mưa lớn, nước sông dâng cao và làn bom đạn dày đặc, rất nhiều người đã ngã xuống, trong đó Tiểu đoàn trưởng của chúng tôi hy sinh đầu tiên. Ngoài những trận ném bom B-52, địch còn sử dụng máy bay trinh sát OV-10 chỉ điểm rất chính xác cho pháo binh từ biển bắn vào. Vì thế, chúng tôi luôn phải ở trong trạng thái cảnh giác cao độ, bất kể ngày hay đêm.
Có những thời điểm, khi Đại đội trưởng và Đại đội phó đều bị thương, từ một y tá, tôi buộc phải cầm súng, thay mặt đại đội trực tiếp chỉ huy anh em chiến đấu. Ngày ấy, thế hệ sinh viên chúng tôi vừa vô tư, mơ mộng, vừa mang trong mình lý tưởng lớn, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước. Trong sâu thẳm, ai cũng mong một ngày được trở về giảng đường đại học. Vì vậy, dù quân số ta và địch có sự chênh lệch lớn, chúng tôi vẫn cứ thế tiến lên.
Tôi nhớ nhất là hôm đánh chiếm nhà thờ Tri Bưu, mấy anh em đi cùng nhau có đến 5 người cùng bị trúng bom, chỉ cách hầm chỗ tôi nằm khoảng 6 - 7m. Nghe tiếng rên rỉ đau đớn của đồng đội, tôi tìm cách bò sang tiêm thuốc, cấp cứu rồi đưa họ ra bờ sông để vận chuyển sang bờ Bắc. Chiến tranh là vậy, có khi đêm trước vừa bổ sung quân, hôm sau đã phải thay một loạt khác.
Một đêm khác, khi đi tìm hố đạn lấy nước, tôi phát hiện địch đang thay lính dù bằng lính thủy tại “nhà Xanh” cạnh nhà thờ (gọi vậy vì ngôi nhà được sơn màu xanh). Tôi lập tức gọi anh em tổ chức đánh chiếm ngay trong đêm. Có một chiến sĩ quê Hải Hưng cũ, vừa được bổ sung từ đêm trước, chạy phía sau tôi thì trúng đạn. Trận đánh quá ác liệt, đơn vị phải dốc toàn lực giành giật từng vị trí, nên tôi dường như không thể “kịp” có cảm xúc gì khi chứng kiến khoảnh khắc người đồng đội phút trước còn kề vai sát cánh bên mình, phút sau đã hy sinh.
Ngày 16-9-1972, quân ta rút khỏi Thành cổ Quảng Trị sau khi đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Tôi được cử ra Hà Nội học Trường Sĩ quan Lục quân. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, tôi xin trở lại chiến trường để tiếp tục chiến đấu. Tôi nghĩ rằng, đồng đội đã hy sinh quá nhiều, mình phải tiếp tục chiến đấu để san sẻ với anh em. Khi chiến tranh kết thúc, tôi trở lại học tại Học viện Quân y và từ đó luôn nỗ lực cống hiến cho nền y học nước nhà.
Bây giờ, khi đã nghỉ hưu và có cuộc sống ổn định như bao người, tôi càng thấm thía giá trị của hòa bình. Tôi và những đồng đội may mắn còn sống vẫn hay nói với nhau: “So với những hy sinh của những người đã nằm xuống, được sống như bây giờ là “lãi” lắm rồi”. Hằng năm, cứ đến ngày 27-7, chúng tôi lại trở về Quảng Trị, thắp nén hương tri ân, tưởng nhớ những người bạn, người đồng đội đã gửi lại tuổi 20 nơi chiến trường.
Tôi chỉ mong thế hệ trẻ hôm nay biết trân trọng hòa bình, bởi cha ông đã đánh đổi bằng biết bao xương máu để có được bầu trời bình yên như ngày hôm nay. Hãy giữ gìn và dựng xây đất nước ngày càng phát triển, giàu đẹp, xứng đáng với công lao của những người đi trước.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.