Thấm thoắt đã tròn 60 năm kể từ ngày những chàng trai Hà Nội rời ga Hàng Cỏ, mang theo ngọn lửa “Ba sẵn sàng” để bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Giữa không khí sục sôi của Thủ đô năm 1965, họ lên đường với ba lô trên vai, lòng đầy nhiệt huyết và niềm tin son sắt, phải giành lại độc lập cho Tổ quốc.
Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Sự kiện này đã làm bừng lên khí thế sục sôi trong lòng tuổi trẻ cả nước, đặc biệt là tại Thủ đô Hà Nội. Chỉ hai ngày sau, Thành đoàn Hà Nội phát động phong trào “Ba sẵn sàng” như một lời hiệu triệu mạnh mẽ gửi tới thanh niên Thủ đô: Sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc.
Phong trào ấy không chỉ là lời hô khẩu hiệu mà đã nhanh chóng trở thành hành động cụ thể. Khắp nơi là các buổi sinh hoạt lý tưởng, thông báo tình hình chiến sự, các đợt đăng ký tình nguyện lên đường nhập ngũ. Đêm đêm, những người trẻ đeo gạch trên lưng, luyện tập hành quân trong bóng tối để chuẩn bị cho ngày cầm súng bước vào chiến trường. Và rồi, tối ngày 17-4-1965, theo giấy gọi nhập ngũ, chúng tôi - những thanh niên ưu tú được tuyển chọn từ các cơ quan, trường học, nhà máy, khu phố… - tập trung tại Nhà hát Nhân dân (nay là Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô). Tại đây, chúng tôi chính thức gia nhập đơn vị mang tên Tiểu đoàn Ba Đình.
Ngay tối hôm đó, sau lễ tiễn đưa, mỗi người được phát hai chiếc bánh mì rồi hành quân thẳng ra ga Hàng Cỏ (ga Hà Nội bây giờ) lên Phú Bình (Thái Nguyên) huấn luyện để chuẩn bị vào chiến trường miền Nam, ngày đó gọi là “đi B”. Sau hơn ba tháng huấn luyện, toàn đơn vị được lệnh hành quân, mỗi người mang theo tất cả vũ khí và trang bị cá nhân, gạo, đạn trên vai, nặng gần 34kg.
Sáng ngày 9-7-1965, sau lời căn dặn ngắn gọn của Tư lệnh Quân khu và lễ trao cờ cho các đơn vị, tiểu đoàn chúng tôi mang phiên hiệu “Tiểu đoàn 602, Trung đoàn 250A” chính thức lên đường. Đây là đơn vị thực binh đầu tiên của bộ đội chủ lực miền Bắc được chi viện trực tiếp cho chiến trường miền Nam, với điểm đến là xã Bắc Kế, tỉnh Phước Long (cũ) nay là tỉnh Bình Phước.
Khi tiểu đoàn hành quân tới sân ga Thái Nguyên, chúng tôi lặng lẽ bước lên tàu. Đó là một chuyến tàu đặc biệt, không khẩu hiệu, tất cả các cửa đều đóng kín. Rồi con tàu âm thầm chuyển bánh, lao về phương Nam. Tàu lăn bánh đều đều trong đêm cho đến khi những toa tàu rung lắc mạnh, chúng tôi mới chợt nhận ra tàu đã vượt qua cầu Long Biên và sắp vào tới ga Hà Nội. Mọi người chạy ra mở toang các cửa. Bên ngoài đồng bào đã đứng đông cả hai bên đường, vẫy tay tiễn đưa. Chúng tôi chỉ kịp ném vội những mẩu giấy viết sẵn xuống đường để báo tin cho gia đình. Điều ngạc nhiên, dù không quen biết nhưng những lá thư của chúng tôi đều được mọi người nhặt lấy để sau này chuyển tới người thân. Có lẽ, đám đông ngoài kia cũng là những người cha, người mẹ. Họ tiễn đưa không chỉ là những người lính, mà họ còn tiễn đưa cả những người con tuy không cùng máu mủ, nhưng là một lớp trẻ Hà Nội sẵn sàng xông pha, là một thế hệ sẽ ra đi để đem về độc lập cho Tổ quốc.
Đúng 12h trưa, đoàn tàu dừng bánh tại đường ray trong cùng, lúc này rất vắng vẻ. Chúng tôi được nhân viên đường sắt phục vụ bữa ăn trưa, nhưng không ai được đặt chân xuống sân ga. Những người con sắp xa mảnh đất quê hương giờ chỉ còn được nhìn ngắm khoảng trời Hà Nội qua những khung cửa kính cũ kỹ. Ga tàu như ôm trọn những nghẹn ngào xúc động, mang theo nỗi nhớ gia đình và bao kỷ niệm thân thương. Chỉ ít phút nữa thôi, đoàn tàu sẽ lại lăn bánh, đưa chúng tôi đến những vùng đất, vùng trời xa lạ, nơi chiến trường ác liệt mà có thể sẽ chẳng bao giờ trở lại được nữa.
Hơn một tháng hành quân trên đất Bắc, chúng tôi đi qua Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình (cũ). Ban ngày nghỉ trong nhà dân, tối lại lên đường hành quân; một bên là bộ đội, một bên là Thanh niên xung phong, cùng nhau trò chuyện, ca hát, hành quân suốt đêm trong khí thế hào hùng của tuổi trẻ lên đường cứu nước. Vượt qua thượng nguồn sông Bến Hải, chúng tôi đến trạm “Ho” - trạm đầu tiên của đường Trường Sơn. Từ đây không còn nhà dân, chỉ có hai thanh niên người dân tộc dẫn đường cho tiểu đoàn. Đường Trường Sơn ngày ấy chỉ là những lối mòn xuyên rừng, có đoạn giao liên phải phát quang mới đi được. Vượt đèo “Ngàn Linh Một” mất trọn một ngày, bước chân người đi trước ngang tầm đầu người đi sau. Càng gần vào đến chiến trường, máy bay địch càng đánh phá ác liệt vào đội hình. Đã có những thanh niên Hà Nội đầu tiên hy sinh.
Tháng 10 bắt đầu vào mùa mưa. Những cơn mưa ở Trường Sơn thường to và lâu, nước lũ dâng cao không đi được. Lương thực và thức ăn dần cạn kiệt. Cả tiểu đoàn bị đói 22 ngày, không còn gạo ăn, phải đi đào củ nần, mót sắn trên nương, xuống suối lấy rau môn thục để ăn cho đỡ đói. Những cơn sốt rét, nhất là sốt rét ác tính đã cướp đi sinh mạng của nhiều chiến sĩ trẻ. Sau ba tháng hành quân vượt Trường Sơn để đến đoạn tập kết, hơn 60 anh em đã nằm lại khi chưa kịp tới chiến trường. Có lúc đơn vị phải lập “Trung đội nghĩa trang” để lo việc chôn cất. Những người còn đủ sức khỏe được bổ sung nhanh chóng về Trung đoàn Bình Giã và các đơn vị trực thuộc của Sư đoàn 9 - sư đoàn chủ lực đầu tiên của Nam Bộ, vừa mới được thành lập ngày 2-9-1965, hầu hết cán bộ chiến sĩ là người miền Nam tập kết ra Bắc nay trở về chiến trường.
Gần 10 năm chiến đấu trong đội hình của Sư đoàn 9 trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, những thanh niên Hà Nội của Tiểu đoàn 602 đã có mặt trong hầu hết các trận đánh lịch sử. Như cuộc càn Gian-xơn Xi-ty (Junction City) huy động các sư đoàn tinh nhuệ của Mỹ cùng lực lượng chủ lực của quân ngụy Sài Gòn nhằm đánh vào căn cứ địa Dương Minh Châu. Địch mở đầu bằng việc rải chất độc hóa học và bom xăng, tiếp đó là các đợt ném bom dữ dội của máy bay B-52 và máy bay phản lực. Sau đó, xe tăng tiến công, trực thăng đổ quân xuống khu vực Suối Bồ (Tây Ninh), quyết tâm tiêu diệt bằng được lực lượng kháng chiến tại đây. Trận chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, nhưng những chiến sĩ trẻ Hà Nội - lần đầu vào chiến trường trong đội hình các sư đoàn chủ lực và bộ đội địa phương - đã anh dũng chiến đấu, bẻ gãy cuộc càn, bảo vệ an toàn cho Trung ương Cục. Họ cũng đã ba lần tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968; góp mặt trong các trận đánh lớn trên chiến trường Campuchia; tham gia chiến dịch Bình Long năm 1972; chiến dịch đánh địch lấn chiếm sau Hiệp định Paris (1973) tại Rạch Bắp (Bến Cát) và cuối cùng là trong đội hình Binh đoàn 232 đánh vào Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát ngụy trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng Sài Gòn ngày 30-4-1975. Những chiến công oanh liệt đó đã góp phần đưa Sư đoàn 9 hai lần được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
60 năm đã trôi qua, chiến tranh giờ chỉ còn trong ký ức. Những người con trai Hà Nội lên đường năm ấy, nhiều người đã nằm lại trên khắp các chiến trường miền Đông Nam Bộ. Hai chữ “hy sinh” giữa thời bình nghe thì nhẹ nhàng, nhưng đằng sau đó là cả một vùng ký ức buồn vui, là xương tan máu đổ, là nỗi tiếc thương nghẹn ngào khi tận mắt chứng kiến đồng đội nằm lại mãi mãi nơi chiến trường.
Cuộc họp mặt kỷ niệm 60 năm ngày nhập ngũ năm nay (17-4-2025) tại Công viên Tuổi Trẻ Thủ đô chỉ còn vỏn vẹn 16 người đến dự, hầu hết đã ở tuổi 80, 90. Sau chiến tranh, một số đồng chí trở thành cán bộ của Trung ương và Thành phố, còn nhiều người khác lặng lẽ trở về đời thường, bước vào thời bao cấp với muôn vàn khó khăn. Họ tiếp tục chiến đấu - lần này là với bệnh tật, với các di chứng của chất độc da cam, với những vết thương chiến tranh tái phát...
Điều duy nhất không hề thay đổi, dù ở những người đã nằm xuống hay những người còn sống đến hôm nay, chính là ngọn lửa cách mạng, ngọn lửa được tôi luyện trong khói lửa chiến tranh, vẫn cháy bỏng, vẹn nguyên.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Hànộimới.