Chính trị

Kỷ niệm 105 năm Ngày sinh nguyên Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo (1921-2026):Người “sống mãi với Thủ đô”

TS Nguyễn Quang Thắng 08/08/2026 - 06:24

LTS: Nhân kỷ niệm 105 năm Ngày sinh nguyên Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo (1921-2026, tên thật là Nguyễn Đức Nguyện), ấn phẩm Hànộimới hằng ngày của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội trân trọng giới thiệu bài viết của TS Nguyễn Quang Thắng, con trai của nguyên Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo với tiêu đề: Người “sống mãi với Thủ đô”.

le-quang-dao.jpg
Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo (người đứng thứ hai, hàng thứ nhất từ trái sang) thăm dây chuyền sản xuất mỳ Vifon Hà Nội, tháng 2-1991. Ảnh: TTXVN

Năm nay là 105 năm sinh nhật cha tôi, nguyên Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo (1921-2026). Những hồi ức về cha tôi vẫn sống động như cách đây 30-40 năm, khi ông chưa đi xa. Mỗi lần nghe cha tôi kể về những ngày toàn quốc kháng chiến trong mùa Đông năm 1946 tại Hà Nội, tôi lại liên tưởng đến tiểu thuyết “Sống mãi với Thủ đô” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng.

Khi biên tập cuốn “Lê Quang Đạo (1921-1999)” và tập hợp tư liệu cho nhà văn Hữu Mai viết tiểu thuyết “Người lữ hành lặng lẽ” (về cuộc đời cha tôi, được Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2017), tôi đã gặp nhiều nhân chứng lịch sử.

Năm 1938, cha tôi vào Đoàn Thanh niên dân chủ Đông Dương tại Hà Nội, khi đang học ở Trường Trung học tư thục Thăng Long. Hoạt động cách mạng đầu tiên của ông trong năm đó là cuộc vận động học chữ Quốc ngữ ở quê nhà Đình Bảng (Bắc Ninh), với khẩu hiệu “Đi học là yêu nước”.

Từ năm 1940 đến 1943, phong trào cách mạng ở Hà Nội bị đế quốc Pháp và phát xít Nhật khủng bố ác liệt. Lãnh đạo Đảng bộ nhiều lần bị triệt phá, người bị bắt, người phải chạy đi. Tháng 4-1943, khi đang là Bí thư Ban cán sự tỉnh Phúc Yên, cha tôi được Xứ ủy Bắc Kỳ điều về làm Bí thư Ban cán sự Hà Nội để gây dựng lại phong trào. Cùng với nhiệm vụ này, cha tôi đã triển khai “Đề cương về văn hóa Việt Nam” với việc thành lập Hội Văn hóa Cứu quốc, tập hợp nhiều nhà văn lớn như Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Học Phi.

Nhà văn Tô Hoài kể lại: “Anh Bé (bí danh của cha tôi) giảng Điều lệ Việt Minh. Tôi hỏi khi khởi nghĩa thì Văn hóa Cứu quốc làm gì. Anh đáp viết hịch kêu gọi toàn dân như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi…”.

Đại tướng Nguyễn Quyết đã viết: “Trong lúc cách mạng cực kỳ khó khăn, anh Đạo đã dũng cảm về công tác ở Hà Nội, một trung tâm đầu não của kẻ thù”; phong trào cách mạng ở Hà Nội tưởng như tan vỡ đã phục hồi từ giữa năm 1943 đến cuối 1944, không ngừng được mở rộng, có cơ sở ở mọi tầng lớp; “công việc mà anh Đạo cùng các đồng chí của Đảng bộ Hà Nội đã làm được là cơ sở cho phong trào cách mạng, tiến lên cao trào khởi nghĩa tháng 8 năm 1945”.

Cuối năm 1944, tại số 3 phố Phó Đức Chính, mật thám Pháp rình phục bắt “Đốc lý Đỏ” Lê Quang Đạo. Nhưng khi giáp mặt, vẻ thư sinh của ông làm chúng chủ quan, bỏ qua. Ông bình tĩnh đi nhanh qua cửa sau, nhảy lên sân thượng chạy thoát.

Sau lần đó, cha tôi được rút ra và lên chiến khu làm Chính trị viên Trường Quân chính kháng Nhật (nay là Trường Sĩ quan lục quân 1).

Ngày 18-3-1946, 1.200 quân Pháp vào Hà Nội, trong lúc gần như toàn bộ 20 vạn quân Tưởng còn ở Việt Nam. Hà Nội cực căng thẳng dưới áp lực của cả hai đội quân và bọn phản động bám theo. Tháng 5-1946, cha tôi, lúc này là Bí thư Hải Phòng đã gây dựng lại tổ chức Đảng sau Cách mạng Tháng Tám, được điều về làm Bí thư Hà Nội, ông lập tức củng cố Mặt trận Dân tộc thống nhất, xây dựng lực lượng vũ trang Vệ quốc đoàn, công an xung phong, tự vệ, sẵn sàng chiến đấu.

Đêm 19-12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, quân dân Thủ đô giành giật với địch từng góc phố, từng căn nhà, lấy bàn, ghế, giường, tủ làm công sự, cầm bom ba càng cảm tử xông lên với ý chí “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Sau 60 ngày đêm chiến đấu quyết liệt của Trung đoàn Thủ đô và nhân dân, cha tôi cùng Thành ủy đã tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ bí mật vượt sông Hồng rút khỏi Hà Nội an toàn.

Trong hai năm 1947 và 1948, Đảng bộ Hà Nội vừa tổ chức ngăn chặn địch lấn chiếm vùng tự do, vừa tấn phá vùng sau lưng địch. Ông nhiều lần vượt qua hệ thống đồn bốt tháp canh, ra vào vùng địch hậu để gây dựng, khôi phục cơ sở Đảng. Riêng quý I-1947, số lượng đảng viên đã tăng từ 400 trước kháng chiến toàn quốc lên 1.278. Giữa năm 1948, ông là Bí thư của liên tỉnh Lưỡng Hà (Hà Nội và Hà Đông).

Cuối năm 1948, trong một chuyến công tác, cha tôi gặp nhạc sĩ Văn Cao. Khi cùng ăn tối, ông nói với nhạc sĩ: “Anh hãy sáng tác cho Hà Nội một bài hát vừa hùng tráng vừa trữ tình nhé!”. Ngay đêm đó, nét nhạc đầu tiên: “Trùng trùng quân đi như sóng…” của bài “Tiến về Hà Nội” đã đến với nhạc sĩ.

Đầu năm 1949, cha tôi rời Hà Nội, về làm Phó Ban tuyên truyền Trung ương và phụ trách báo Sự Thật của Đảng. Tổng Bí thư Trường Chinh là Trưởng ban.

Năm 1950, cha tôi chuyển vào công tác trong quân đội. Năm 1968, ông là Chính ủy Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh. Địa điểm Bộ Tư lệnh bị B52 đánh bom cấp tập. Ông và bảo vệ, bác sĩ lạc vào giữa bãi bom. Hai bảo vệ nằm đè lên che cho ông, bị đá dập thương khá nặng. Không có gì ăn, cả nhóm chia đều nắm gạo rang sót lại, mỗi người một nhúm dăm chục hạt. Cha tôi lấy phần của mình, sẻ nửa cho cậu đang sốt rét. Trước đó, dứt đợt bom, ai nấy mặt hốc hác, đầy khói bom và bụi.

Năm 1978, cha tôi rời quân ngũ, trở về Hà Nội với chức trách Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội (1978-1982), ở một thời kỳ đặc biệt của Thủ đô, khi còn bao cấp. Công việc thường xuyên của Đảng bộ là lo đời sống cho dân, tính từ cân gạo, mét vải đến bó rau ăn và chất đốt mỗi ngày. Để tiết kiệm, hằng ngày, ông đi bộ đi làm từ nhà ở góc đường Điện Biên Phủ - Hoàng Diệu đến cơ quan ở phố Lê Lai, mang theo cà mèn cơm trưa.

Nguyên Chủ tịch HĐND thành phố Hà Nội Phạm Lợi kể lại: “Anh Đạo đưa ra vấn đề quy hoạch cán bộ, một khái niệm hồi đó còn mới mẻ và rất chú trọng việc phát triển khoa học, kỹ thuật”.

Bốn lần là lãnh đạo Đảng ở Hà Nội xem như một vòng tròn nhỏ nằm trong bốn môi trường đặc biệt đã tạo nên con người cha tôi, ứng với bốn giai đoạn then chốt của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Đó là thời kỳ giành độc lập với hoạt động bí mật của ông trong chức trách lãnh đạo tổ chức Đảng; thời kỳ bảo vệ độc lập với chức trách chỉ huy chính trị - quân sự, đặt nền móng và lãnh đạo ngành tuyên huấn quân đội, chính ủy các chiến dịch lớn; thời kỳ xây dựng hệ thống pháp luật trong chức trách lãnh đạo Quốc hội, cơ quan lập pháp; thời kỳ đổi mới và pháp luật hóa công tác dân vận với chức trách lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức tập hợp và đoàn kết toàn dân. Đặc biệt, trong gần 15 năm cuối, cha tôi góp phần quan trọng trong việc thay đổi căn bản hoạt động của Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tính cha tôi luôn vui vẻ, hóm hỉnh, dễ gần và nhân hậu. Đó cũng là điểm nổi trội, nét đặc sắc của văn hóa và con người Kinh Bắc. Nhờ có tình cảm bền chắc, với nét vui là nền tảng, ông dễ tiếp cận mọi người và luôn lạc quan trong mọi hoàn cảnh.

Bà con ở quê nhà, đồng chí, đồng đội và mọi người cùng thời, từng quen biết, công tác với ông đều có chung một cảm nhận, cha tôi là người thấu hiểu tâm lý mọi người, khéo léo về đối nhân xử thế. Ông kết hợp được giữa cởi mở, hòa nhập với tính nguyên tắc rất nghiêm, không qua loa, lẫn lộn. Nhưng trên hết, ông là người chí công vô tư, nhìn nhận rõ đúng, sai và luôn trung thực. Đó là những đức tính tốt đẹp mà chúng tôi ngưỡng mộ và cố gắng noi gương cha tôi, một con người và một cán bộ Đảng mẫu mực!

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Kỷ niệm 105 năm Ngày sinh nguyên Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo (1921-2026): Người “sống mãi với Thủ đô”

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.