Công nghiệp văn hóa

Kinh tế sự kiện: Trụ cột mới của công nghiệp văn hóa

Nhóm phóng viên 20/07/2026 - 06:25

LTS: Công nghiệp văn hóa cả nước nói chung, Hà Nội nói riêng, trong thời gian gần đây chứng kiến sự chuyển động mạnh mẽ. Hàng loạt dự án nghệ thuật, điện ảnh, thể thao quy mô lớn được khởi động; nhiều địa phương xây dựng kinh tế đêm, trung tâm sáng tạo, thiết chế văn hóa mới, rồi những đêm siêu nhạc hội thu về hàng trăm tỷ đồng, những bộ phim điện ảnh xô đổ mọi kỷ lục phòng vé…; mang đến tầm thế mới cho công nghiệp văn hóa.

Tuy nhiên, phía trước còn nhiều việc phải làm để kinh tế sự kiện thực sự trở thành động lực thúc đẩy công nghiệp văn hóa. Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội trân trọng giới thiệu với bạn đọc loạt bài “Kinh tế sự kiện: Trụ cột mới của công nghiệp văn hóa” để làm rõ hơn về vấn đề này .

Bài 1: Tái định vị giá trị từ “bổ trợ” sang “trụ cột” chiến lược

Văn hóa hoàn toàn có thể tạo ra lợi nhuận. Đó là một ngành kinh tế thực chất, chứ không còn là lĩnh vực chỉ biết tiêu ngân sách”. Nhận định này của Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam cũng chính là tư duy chủ đạo đang định hình nên một làn sóng đầu tư mới. Khi các dòng vốn lớn bắt đầu chuyển dịch, văn hóa không còn đóng vai trò “giải pháp bổ trợ” làm đẹp cho dự án, mà đang khẳng định vị thế của một ngành đầu tư độc lập, vận hành đồng điệu với tinh thần đổi mới bứt phá của thể chế.

7-kt-sukien.jpg
Các nghệ sĩ thực hiện những màn trình diễn kỹ thuật trên không, kết hợp ngôn ngữ múa, xiếc và hiệu ứng sân khấu trong chương trình “Đất nước Thiên hùng ca”. Ảnh: BTC

“Miền đất hứa” của những dòng vốn lớn

Đầu tháng 7-2026, khi chương trình nghệ thuật thực cảnh “Đất nước Thiên hùng ca” sáng đèn tại Vinpearl Theatre (Ocean City), khán giả đã có một trải nghiệm khó quên. Trong suốt 75 phút, hơn 4.000 năm lịch sử dân tộc được tái hiện sinh động bằng sự kết hợp giữa mô hình sân khấu nhập vai, hệ thống cơ khí đa tầng và 12 lớp công nghệ trình diễn hiện đại, như: Hologram, 3D mapping, laser. Sự đón nhận của hàng nghìn khán giả không chỉ là thành công của đêm diễn, mà còn là chỉ dấu cho việc văn hóa chính thức trở thành trụ cột chiến lược thứ 6 của Tập đoàn Vingroup (công bố tháng 11-2025), đứng ngang hàng với các lĩnh vực công nghệ, công nghiệp hay thương mại dịch vụ.

Trong chưa đầy một năm, việc phát triển các đơn vị chuyên trách, như: V-Film, V-Culture Talents và V-Spirit, hình thành hệ sinh thái văn hóa khép kín từ đào tạo nhân lực, sản xuất nội dung đến phát triển hạ tầng, cho thấy sự đầu tư bài bản của tập đoàn vào lĩnh vực này. Dòng vốn lớn đổ vào văn hóa minh chứng rằng, lĩnh vực vốn nhiều năm được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ bảo tồn, giáo dục hay phục vụ đời sống tinh thần, đang dần được định vị như một không gian phát triển kinh tế mới đầy tiềm năng. Phân tích xu hướng này, tại buổi tọa đàm sau suất diễn đầu tiên của “Đất nước Thiên hùng ca”, chuyên gia truyền thông Lê Quốc Vinh nhận định: Một sản phẩm công nghiệp văn hóa thành công không phải sản phẩm đơn nhất, mà là một chuỗi các tài sản trí tuệ (IP) có thể phát triển thành nhiều sản phẩm phái sinh để tiếp tục thương mại hóa, kéo dài trải nghiệm của khán giả trước, trong và sau khi xem.

Nếu Vingroup đang định hình một trung tâm “kinh tế sự kiện” tại phía Đông Thủ đô, thì tại khu vực lõi di sản hồ Tây, Tập đoàn Sun Group cũng đang đẩy nhanh tiến độ thi công dự án Nhà hát Ngọc Trai (Opera Hà Nội) ở bán đảo Quảng An (phường Tây Hồ), dự kiến hoàn thành vào năm 2027. Được đầu tư theo mô hình xã hội hóa 100% với tổng vốn hơn 12.000 tỷ đồng, công trình nằm trong quần thể công viên văn hóa nghệ thuật rộng 19,1ha, được kỳ vọng trở thành thiết chế văn hóa biểu tượng toàn cầu của Thủ đô. Với khán phòng Opera có sức chứa lên đến 1.797 chỗ đạt tiêu chuẩn âm học tối ưu cùng không gian đa năng có thể chuyển đổi linh hoạt, công trình là hạ tầng chiến lược để Hà Nội chủ động thu hút các chương trình lưu diễn toàn cầu của ngôi sao hạng A, sự kiện nghệ thuật tầm cỡ quốc tế…, từ đó kéo dài thời gian lưu trú, kích cầu mạnh mẽ tiêu dùng du lịch.

Ở góc nhìn vĩ mô hơn, Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên dẫn chứng câu chuyện từ thực tế hạ tầng để đối chiếu với năng lực triển khai văn hóa: “Báo chí đưa tin doanh nghiệp nội địa nhập một lúc hơn 80 máy để đào hầm làm tàu điện ngầm. Từ nay đến năm 2030, mục tiêu làm được 300km tàu điện ngầm tại Hà Nội là một tốc độ thần tốc mà các quốc gia như Pháp hay Nga có khi phải mất 30, 40 năm. Điều đó chứng tỏ chúng ta hoàn toàn có nguồn lực thực chất chứ không phải chỉ có ý chí. Văn hóa cũng vậy, tâm thế và tiềm lực của Việt Nam bây giờ đã khác. Khi có nguồn lực kinh tế mạnh làm bệ đỡ, kết hợp với sự nhạy bén trong ứng dụng khoa học, công nghệ, diện mạo của các bảo tàng, triển lãm hay không gian trình diễn sẽ thay đổi rất nhanh”.

Thể chế mở đường cho thị trường mới

Sự xuất hiện gần như đồng thời của các dự án văn hóa quy mô lớn không phải là sự dịch chuyển ngẫu nhiên của dòng vốn, mà là kết quả của một một quá trình thay đổi mạnh mẽ về thể chế và tư duy phát triển công nghiệp văn hóa kéo dài cả một thập kỷ - từ “phát triển văn hóa” sang “phát triển thị trường văn hóa”. Mục tiêu không dừng ở việc tạo ra nhiều hoạt động, mà hình thành một hệ sinh thái sáng tạo, kết nối chặt chẽ giữa doanh nghiệp, nghệ sĩ và nhà đầu tư.

Hành trình ấy được đánh dấu bằng chuỗi quyết sách nối tiếp nhau: Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 8-9-2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; tiếp đó là Quyết định số 2486/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 14-11-2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, xác định 10 ngành công nghiệp văn hóa, đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, với 2 mốc tăng trưởng rõ ràng (đóng góp khoảng 7% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và tiến tới khoảng 9% GDP vào năm 2045).

Gần nhất, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam lần đầu tiên xác định công nghiệp văn hóa là một trụ cột của phát triển bền vững. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17-3-2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới tiếp tục mở rộng không gian phát triển, với định hướng chuyển hóa di sản thành “tài sản sống”, gắn văn hóa với du lịch, thiết kế và nghệ thuật để hình thành các thương hiệu văn hóa mang tầm quốc tế. Điểm chung xuyên suốt của chuỗi văn bản này là một sự dịch chuyển, từ những định hướng mang tính khuyến khích, chính sách văn hóa giờ đây đã có chỉ tiêu tăng trưởng và có thể đo đếm bằng số liệu - gần như chưa từng có tiền lệ.

Theo Nghệ sĩ nhân dân Vương Duy Biên, dịch chuyển quan trọng nhất nằm ở nguồn lực đầu tư. Trước đây, nhắc đến văn hóa là nhắc đến “bầu sữa” ngân sách nhà nước. Nay, tư duy đã thay đổi: Văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, nguồn lực phát triển phải được huy động từ toàn xã hội, trong đó khu vực tư nhân giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Việc Quốc hội thông qua quy định bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước là một nỗ lực lớn, góp phần khắc phục tình trạng văn hóa nhiều năm là lĩnh vực bị “cắt giảm tiết kiệm đầu tiên”. Rõ ràng, khi tiềm lực đất nước đã khác, tâm thế của chúng ta đã khác, văn hóa cần được vận hành như một ngành kinh tế thực chất.

Sự “cởi trói” tư duy này được cụ thể hóa bằng hàng loạt cơ chế: Thí điểm mô hình kinh doanh văn hóa trên nền tảng số, hợp tác công - tư (PPP) trong đầu tư thiết chế văn hóa, ưu đãi về đất đai, thuế cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và khuyến khích tư nhân đầu tư hạ tầng văn hóa. Đáng chú ý, việc lần đầu tiên xây dựng Bộ chỉ tiêu thống kê cho 11 ngành công nghiệp văn hóa theo chuẩn quốc tế, với lộ trình 2026 thí điểm và 2027 triển khai chính thức cho thấy, công nghiệp văn hóa đã được nhìn nhận như một ngành kinh tế có thể lượng hóa chứ không còn là khái niệm định tính.

Với Hà Nội, đầu tàu văn hóa của cả nước, sự thay đổi ấy thể hiện rõ nét. Từ Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22-2-2022 của Thành ủy Hà Nội về phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; đến những quy định đặc thù trong Luật Thủ đô năm 2026, tất cả đều hướng tới mở rộng không gian cho các chủ thể sáng tạo và khơi thông mô hình hợp tác công - tư.

Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội Phạm Tuấn Long cho biết, với quyết tâm chính trị cao và cách tiếp cận chủ động, bài bản, Hà Nội đang từng bước cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng những mục tiêu có thể kiểm đếm: Phấn đấu 95% thiết chế văn hóa, thể thao trên toàn thành phố hoạt động hiệu quả; dành trên 4% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn; công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 9% Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của thành phố; xây dựng từ 3 sự kiện thương hiệu quốc tế trở lên về âm nhạc, điện ảnh và nghệ thuật; cùng 16 chỉ tiêu riêng của Hà Nội, tập trung vào chuyển đổi số trong văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn…

Những định hướng và mục tiêu này đang từng bước tạo lập niềm tin cho thị trường. TS Lê Thị Việt Hà, chuyên gia văn hóa doanh nghiệp, Viện Quản trị kinh doanh (Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội) nhận định, sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của các doanh nghiệp lớn là phản ứng tất yếu khi hành lang pháp lý được mở rộng, tạo điều kiện để các giá trị văn hóa được đặt đúng vị trí của một ngành kinh tế đúng nghĩa. Khi thể chế đã mở đường và thực tiễn đã chứng minh văn hóa hoàn toàn có thể tạo ra những giá trị kinh tế đo lường được, bài toán đặt ra là làm sao để các mảnh ghép đơn lẻ kết nối thành một hệ sinh thái vận hành xuyên suốt.

(Còn nữa)

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Kinh tế sự kiện: Trụ cột mới của công nghiệp văn hóa

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.