Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống khu công nghiệp (KCN) Hà Nội, không chỉ để đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, mà còn nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, hiệu quả sử dụng đất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Với việc ban hành Quyết định số 80/2026/QĐ-UBND ngày 29-6-2026 của thành phố về việc quy định tiêu chí khu, cụm công nghiệp sinh thái trên địa bàn thành phố và lộ trình, cơ chế, chính sách hỗ trợ chuyển đổi khu, cụm công nghiệp đang hoạt động thành khu, cụm công nghiệp sinh thái, quyết định này thể hiện rõ lộ trình chuyển đổi các KCN, cụm công nghiệp (CCN) hiện hữu sang mô hình sinh thái.
Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để những tiêu chí xanh đi vào thực tiễn sản xuất, trở thành động lực nâng cao chất lượng tăng trưởng của Thủ đô?
Từ sức hút đầu tư đến yêu cầu nâng chất lượng công nghiệp
Trong bức tranh kinh tế Hà Nội năm 2026, hệ thống các khu công nghệ cao và KCN tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong thu hút đầu tư, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu.
Theo thông tin do Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp thành phố Hà Nội, tính 6 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư thu hút vào các khu công nghệ cao và KCN đạt 848,5 triệu USD, bằng 116% kế hoạch năm. Doanh thu sản xuất, kinh doanh ước đạt 6,698 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch xuất khẩu đạt 4,039 tỷ USD, tăng 8,8%; nộp ngân sách đạt 313 triệu USD, tăng 20%.
Cũng trong thời gian này, Dự án Nhà máy sản xuất linh kiện bán dẫn Viettel tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, quy mô khoảng 27ha, tổng vốn đầu tư khoảng 1,3 tỷ USD, đã được khởi công.
Thành phố đồng thời phê duyệt chủ trương đầu tư hai KCN mới là Tiến Thắng và Phù Đổng; Tập đoàn Meiko (Nhật Bản) tăng thêm 190 triệu USD vốn đầu tư tại KCN Quang Minh.
Những diễn biến này cho thấy sức hút của không gian công nghiệp Hà Nội vẫn được duy trì, trong đó công nghệ cao và các dự án có giá trị gia tăng lớn ngày càng được chú trọng.
Tuy nhiên, khi yêu cầu phát triển bền vững ngày càng cao, hiệu quả của một KCN không thể chỉ được đánh giá bằng tỷ lệ lấp đầy, tổng vốn đăng ký hay doanh thu. Khả năng tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên, kiểm soát chất thải, đổi mới công nghệ và liên kết giữa các doanh nghiệp cũng cần trở thành những thước đo quan trọng.
Tại hội thảo về chuyển đổi KCN sang mô hình sinh thái, công nghệ cao tổ chức tháng 4-2026, Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp thành phố đã chỉ ra những tồn tại về cơ cấu ngành nghề, hạ tầng môi trường và ứng dụng công nghệ số trong quản lý.
Theo thông tin được công bố tại hội thảo, một số KCN còn có tỷ trọng doanh nghiệp thuộc nhóm công nghệ thấp, phát thải cao đáng kể; hạ tầng môi trường tại một số KCN hình thành từ sớm chưa đồng bộ với yêu cầu hiện nay. Việc ứng dụng dữ liệu trong quản trị, theo dõi hoạt động và cảnh báo nguy cơ môi trường cũng chưa đồng đều.

Những hạn chế này đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận trong phát triển công nghiệp. Nếu chỉ mở rộng quy mô sản xuất mà chưa cải thiện tương xứng hiệu quả sử dụng tài nguyên và chất lượng công nghệ, lợi thế thu hút đầu tư sẽ khó chuyển hóa đầy đủ thành năng lực cạnh tranh dài hạn.
Tại một số hội nghị về vấn đề trên, Phó Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội Lê Trung Hiếu cho biết, để đón các tập đoàn công nghệ lớn, Hà Nội tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng và hoàn thiện hạ tầng. Thành phố đồng thời thúc đẩy mô hình KCN sinh thái, xanh, tuần hoàn, phù hợp xu hướng đầu tư bền vững.
Ở góc độ chuyên gia, PGS.TS Ngô Trí Long, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính) cho rằng ưu đãi đầu tư cần gắn với cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, tỷ lệ nội địa hóa, tiêu chuẩn môi trường, trách nhiệm xã hội và mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước. Ông cũng nhấn mạnh yêu cầu quản trị đầu tư bằng dữ liệu, phân biệt dự án có hiệu quả với dự án chiếm dụng nguồn lực.
Dù tập trung vào chất lượng thu hút đầu tư nói chung, những nhận định này cũng gợi mở một vấn đề quan trọng đối với quá trình xanh hóa KCN, môi trường đầu tư bền vững không thể chỉ dựa vào ưu đãi hay quỹ đất, mà phải được bảo đảm bằng chất lượng hạ tầng, tiêu chuẩn môi trường, năng lực quản trị và cam kết thực hiện của doanh nghiệp.
Đưa tiêu chí xanh vào thực tiễn sản xuất
Ngày 29-6-2026, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 80/2026/QĐ-UBND quy định tiêu chí KCN, CCN sinh thái trên địa bàn thành phố và lộ trình, cơ chế, chính sách hỗ trợ chuyển đổi các KCN, CCN đang hoạt động sang mô hình sinh thái. Đây là bước cụ thể hóa định hướng phát triển công nghiệp gắn với tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Theo đó, KCN sinh thái phải đáp ứng đồng thời các nhóm tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển kinh tế tuần hoàn và cộng sinh công nghiệp. Nhà đầu tư hạ tầng có trách nhiệm xây dựng hạ tầng số, công khai thông tin môi trường, thiết lập cơ chế giám sát việc sử dụng nguyên liệu, năng lượng, nước và chất thải của doanh nghiệp; đồng thời thực hiện chế độ báo cáo theo quy định.
Ở cấp doanh nghiệp, các yêu cầu về sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, giảm phát sinh chất thải và tham gia cộng sinh công nghiệp cho thấy bản chất của mô hình sinh thái không nằm ở việc cải thiện cảnh quan đơn thuần. Điều quan trọng là thay đổi phương thức vận hành: Sử dụng ít tài nguyên hơn cho cùng một kết quả sản xuất, giảm chất thải ngay từ đầu vào và tăng khả năng tái sử dụng nguồn lực giữa các cơ sở sản xuất.
Một điểm đáng chú ý là Hà Nội không chỉ đặt tiêu chí cho các KCN mới mà còn xây dựng lộ trình chuyển đổi các KCN, CCN đang hoạt động.
Trong giai đoạn 2026-2028, thành phố rà soát, đánh giá, phân loại các KCN hiện hữu, xây dựng đề án chuyển đổi và đăng ký chứng nhận KCN sinh thái trình cấp có thẩm quyền xem xét.
Giai đoạn 2029-2045, các giải pháp chuyển đổi được triển khai theo đề án được phê duyệt, hướng tới hoàn thành chuyển đổi các KCN, CCN đang hoạt động sang mô hình sinh thái trước năm 2045.
Lộ trình này có ý nghĩa quan trọng bởi chuyển đổi xanh không thể chỉ tập trung vào những dự án được xây dựng mới. Các KCN đang hoạt động mới là nơi tập trung một bộ phận lớn cơ sở sản xuất, lao động và hoạt động tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu. Do đó, việc rà soát hiện trạng, xác định rõ những điểm nghẽn về hạ tầng và môi trường, xây dựng thứ tự ưu tiên đầu tư sẽ quyết định tính khả thi của quá trình chuyển đổi.
Theo Ban Quản lý các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp thành phố, Ban sẽ tiếp tục rà soát hiện trạng, xây dựng đề án chuyển đổi các KCN hiện hữu sang mô hình sinh thái theo Quyết định số 80/2026/QĐ-UBND.
Đối với KCN Quang Minh, cơ quan quản lý yêu cầu khẩn trương khắc phục các tồn tại về môi trường và hoàn thiện đồng bộ hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch được duyệt.
Đây là những nhiệm vụ cụ thể cần được theo dõi bằng tiến độ và kết quả thực hiện, thay vì chỉ dừng ở định hướng chính sách.
Cùng với chuyển đổi các KCN hiện hữu, Hà Nội đang đặt mục tiêu nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư trong giai đoạn mới.
Theo thông tin được Ban Quản lý công bố ngày 1-10-2026, giai đoạn 2026-2030, thành phố đặt mục tiêu thu hút 25 tỷ USD vốn FDI đăng ký, khoảng 16 tỷ USD vốn thực hiện; tỷ trọng vốn FDI vào công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, công nghiệp xanh phấn đấu đạt 50% tổng vốn thu hút mới.
Đáng chú ý, thành phố đặt mục tiêu tỷ lệ KCN sinh thái đạt 40% vào năm 2030.
Đây là các mục tiêu của giai đoạn tới, không phải kết quả đã đạt được. Muốn hiện thực hóa những mục tiêu này, Hà Nội cần đồng thời nâng cấp hạ tầng, bảo đảm quỹ đất sạch, cải thiện năng lực quản trị môi trường và tạo điều kiện để doanh nghiệp đổi mới công nghệ.
Việc thu hút các dự án có hàm lượng công nghệ cao cũng cần đi cùng yêu cầu sử dụng đất hiệu quả, kiểm soát phát thải và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước. Chuyển đổi xanh vì thế không thể chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý hay nhà đầu tư hạ tầng. Doanh nghiệp thứ cấp cần chủ động kiểm kê, tiết kiệm năng lượng, đổi mới thiết bị và thực hiện các yêu cầu về môi trường; đơn vị quản lý KCN cần xây dựng hạ tầng đồng bộ, minh bạch dữ liệu và giám sát việc tuân thủ; cơ quan nhà nước cần theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả và tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, nguồn lực.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.