Bất động sản

Khơi thông nguồn lực đất đai, hài hòa lợi ích phát triển

Nhóm Phóng viên 12/08/2026 18:43

Đó là chủ đề của chương trình "Hà Nội chuyển động" được truyền hình và tường thuật trực tiếp từ 19h tối nay (12-8) trên các nền tảng đa phương tiện của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.

Đất đai là nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, nguồn lực này chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng quy hoạch, đúng mục đích và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Thực tế tại Hà Nội vẫn còn nhiều dự án chậm triển khai do vướng mắc về xác định nghĩa vụ tài chính, điều chỉnh quy hoạch, giải phóng mặt bằng hoặc chủ đầu tư chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong đầu tư hạ tầng xã hội. Những khu đất bị "đóng băng" nhiều năm không chỉ gây lãng phí tài nguyên mà còn làm chậm cơ hội phát triển của địa phương và nền kinh tế.

truong-quay.jpg
Khách mời tham gia chương trình "Hà Nội chuyển động". Ảnh: Phạm Hùng

Với sự tham gia của GS.TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân và TS Trần Xuân Lượng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và bất động sản Việt Nam, chương trình "Hà Nội chuyển động" sẽ phân tích những "điểm nghẽn" trong quản lý, sử dụng đất đai; làm rõ trách nhiệm của các bên liên quan đối với các dự án chậm triển khai; đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm khơi thông nguồn lực đất đai, tạo động lực cho tăng trưởng và phát triển bền vững.

6 “nút thắt” pháp lý khiến dự án mắc kẹt

Nhìn từ góc độ pháp luật đất đai, GS.TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân, nhìn nhận có 6 “nút thắt” phổ biến dẫn đến tình trạng có những dự án được giao đất nhưng 10 năm, thậm chí gần 20 năm vẫn chưa thể triển khai.

Thứ nhất, nhiều dự án khi giao đất nhưng chưa được giải phóng mặt bằng. DN phải tập trung nguồn lực lớn và thời gian cho công tác này.

Thứ hai là thiếu đồng bộ về các quy định pháp luật, những chồng chéo trong các quy định pháp luật.

2aoboqr1rfe6kgarlzr0ao07fctezuexwstbpjsu.jpg
GS.TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Phạm Hùng

Thứ ba, khi giao đất cho dự án thì thủ tục, cách thức tiến hành chưa đúng, ví dụ như tính giá sai, dẫn tới phải làm lại.

Thứ tư là thay đổi về pháp lý trong quá trình triển khai, ví dụ thay đổi về quy hoạch khi triển khai dự án.

Thứ năm, trong quy hoạch có đầu tư hạ tầng của Nhà nước. Tuy nhiên, khi triển khai dự án xong, Nhà nước lại chưa thực hiện dự án hạ tầng phụ trợ khiến dự án không thể đi vào vận hành.

Và cuối cùng là năng lực của nhà đầu tư. Không ít nhà đầu tư có năng lực hạn chế. Đây là những yếu tố chính khiến các dự án tồn đọng kéo dài.

Dự án "đắp chiếu" nhiều năm gây lãng phí lớn cho nền kinh tế

Trao đổi về những hệ lụy của các dự án bất động sản chậm triển khai, TS Trần Xuân Lượng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và bất động sản Việt Nam cho rằng, thiệt hại không chỉ nằm ở phần đất bị bỏ hoang mà còn là những chi phí cơ hội rất lớn đối với sự phát triển của địa phương, thị trường và nền kinh tế.

Cụ thể, đất đai là nguồn lực đặc biệt quan trọng, vừa là tài nguyên quốc gia, vừa là đầu vào của quá trình sản xuất, có tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, thị trường bất động sản, thậm chí cả quốc phòng, an ninh. Vì vậy, khi một dự án bị chậm triển khai trong thời gian dài, những thiệt hại phát sinh là rất lớn.

2aoboqr1sin3gnoidt6zqhmzkbkgljtnoba86lve.jpg
TS Trần Xuân Lượng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và bất động sản Việt Nam chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Phạm Hùng

"Đất đai là một nguồn lực kinh tế - xã hội, là tài nguyên quốc gia, là đầu vào của sản xuất. Nó ảnh hưởng rất lớn đến các yếu tố kinh tế, xã hội, thậm chí cả quốc phòng, an ninh. Vì vậy, khi một dự án bị bỏ hoang trong thời gian dài thì thiệt hại đối với nền kinh tế và thị trường bất động sản là rất lớn", TS Trần Xuân Lượng nhấn mạnh.

Trước khi triển khai, mỗi dự án đều phải đánh giá tác động kinh tế - xã hội, việc làm, môi trường, an sinh xã hội và nhiều yếu tố liên quan. Tuy nhiên, khi dự án không được thực hiện như kỳ vọng mà phải "đắp chiếu" trong nhiều năm, toàn bộ những giá trị dự kiến tạo ra đều bị mất đi.

Nếu lượng hóa những thiệt hại này thì con số sẽ rất lớn. Riêng về chi phí cơ hội, theo kinh tế học, đó là giá trị lớn nhất bị mất đi. Khi một dự án chậm triển khai, các nhà đầu tư khác không có cơ hội tiếp cận quỹ đất; người dân đã chuyển đổi mục đích sử dụng đất để nhường đất cho dự án nhưng dự án lại không được thực hiện. Đó là những mất mát rất lớn về góc độ kinh tế và thị trường.

Cũng theo TS Trần Xuân Lượng, một hệ lụy đáng chú ý khác là quỹ đất không được đưa vào khai thác, làm giảm nguồn cung cho thị trường bất động sản. Quỹ đất không được sử dụng đồng nghĩa với việc nguồn cung nhà ở và bất động sản giảm đi, trong khi nhu cầu ngày càng tăng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến giá nhà ở liên tục tăng trong thời gian vừa qua.

Chung tay tháo gỡ dự án chậm triển khai

Nhìn nhận công bằng, không phải dự án nào chậm triển khai cũng xuất phát từ vướng mắc pháp luật. Có trường hợp chủ đầu tư được giao đất nhưng năng lực tài chính hạn chế, chậm triển khai hoặc chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Trong trường hợp này, trách nhiệm của các bên liên quan như chủ đầu tư, chính quyền địa phương… sẽ như thế nào khi để tình trạng này kéo dài?

anh-1.jpeg
Khu đất một dự án trên địa bàn xã Vĩnh Thanh, Hà Nội. Ảnh: Phạm Hùng

Trả lời câu hỏi này, GS.TS Hoàng Văn Cường chia sẻ, chúng ta phải phân loại xem dự án chậm đó thuộc nhóm nào, nếu thuộc nhóm không thể triển khai vì vướng pháp luật thì trách nhiệm chính là của chính quyền địa phương.

Loại thứ 2, loại dự án không vướng pháp luật nhưng nhà đầu tư không triển khai, chỉ chờ cơ hội tăng giá rồi bán lại dự án hoặc chỉ giữ đất, những dự án này theo quy định quá thời hạn 24 tháng không gia hạn được nữa sẽ bị thu hồi, và chính quyền địa phương phải cương quyết thu hồi.

Nhóm 3, loại dự án nhà đầu tư cũng bỏ tiền, đang đầu tư dở dang nhưng liên quan đến khách hàng là bên thứ 3 dừng không làm nữa. Trong trường hợp này, lỗi thuộc về chủ đầu tư nhưng chủ đầu tư không dễ dàng bán lại dự án vì đang có vướng mắc với khách hàng bên thứ 3 và Nhà nước nếu thu hồi cũng không dễ xử lý với khách hàng. Đây là nhóm khá khó khăn, vướng mắc lúc này cần sự chung tay tháo gỡ của Nhà nước và chủ đầu tư và cần sự cương quyết thì mới giải quyết thỏa đáng được lợi ích các bên.

Tháo gỡ dự án, tránh “giải cứu” tràn lan

Theo TS Trần Xuân Lượng, để tháo gỡ khó khăn cho các dự án, trước hết, cần rà soát, đánh giá và phân loại cụ thể từng dự án, xác định rõ nguyên nhân vướng mắc nằm ở thủ tục pháp lý, hành chính hay tài chính...

TS Trần Xuân Lượng cho rằng, mỗi dự án cần được lập một “bệnh án” riêng để xác định đúng điểm nghẽn. Chẳng hạn, với những dự án vướng trong giai đoạn chuyển giao, sáp nhập, nguyên nhân chủ yếu có thể nằm ở thủ tục pháp lý. Trong khi đó, các dự án gặp khó từ giai đoạn 2012-2013 phần lớn chịu tác động từ vấn đề tài chính, khi chính sách tiền tệ và lãi suất ở mức cao.

“Chúng ta phải phân loại rất rõ ràng, cụ thể thì từ đó, Nhà nước mới có các giải pháp cụ thể cho từng nhóm dự án”, TS Trần Xuân Lượng nhấn mạnh.

2aoboqr1sinrb1e5fxqtremfpf1nsdvagmogb5qu.jpg
TS Trần Xuân Lượng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Bất động sản Việt Nam chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Phạm Hùng

Dưới góc độ thị trường, TS Trần Xuân Lượng cho rằng, nếu việc tháo gỡ được thực hiện cụ thể, công bằng và khách quan thì sẽ mang lại hiệu quả. Ngược lại, nếu hỗ trợ không có sự phân loại, chính sách có thể vô tình trở thành cơ chế “giải cứu” cho những dự án không cần thiết.

TS Trần Xuân Lượng cũng gợi mở việc lựa chọn những dự án có tính chất an sinh xã hội để ưu tiên, như các dự án nhà ở theo chủ trương mới, nhà ở cho thuê, cùng những dự án hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm.

“Chúng ta phải lọc ra những đối tượng, nhóm như vậy thì việc giải quyết mới hiệu quả”, TS Trần Xuân Lượng nói.

Bốn nguồn lực then chốt để dự án bảo đảm tiến độ

Trước vấn đề khi một chủ đầu tư đề nghị Nhà nước tháo gỡ khó khăn, họ cần chứng minh những gì để bảo đảm rằng sau khi nút thắt được tháo, dự án thực sự chạy, TS Trần Xuân Lượng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Bất động sản Việt Nam cho rằng cần chú trọng vào bốn nguồn lực then chốt.

2aoboqr1sd8if7lm5uusaezfnjocgqcfvdf5gzp2.jpg
TS Trần Xuân Lượng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Bất động sản Việt Nam chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Phạm Hùng

Đó là con người, đất đai, vốn hạ tầng và công nghệ. Trong đó, nguồn lực đất đai gắn liền với việc cải thiện các thủ tục hành chính và pháp lý, nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi nhất, giảm thiểu thời gian và chi phí phát sinh. Trọng tâm cốt lõi nằm ở việc hoàn thiện cơ chế quản lý của Nhà nước để các thủ tục triển khai dự án được diễn ra nhanh chóng.

Bên cạnh đó, năng lực tài chính của chủ đầu tư cũng là yếu tố quyết định. Theo quy định của Luật Đầu tư, chủ đầu tư phải chứng minh được khả năng tài chính và nguồn vốn đối ứng tương ứng với quy mô của từng dự án cụ thể, ví dụ như các dự án có diện tích từ 15 đến 20ha, để đảm bảo đủ điều kiện thực hiện.

Khơi thông dự án phải bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân

Theo GS.TS Hoàng Văn Cường, mục tiêu của việc xử lý các dự án tồn đọng không chỉ là đưa dự án hoạt động trở lại, mà quan trọng hơn là khơi thông nguồn lực để tạo ra giá trị cho xã hội. Việc tháo gỡ cần bảo đảm hài hòa lợi ích của ba chủ thể gồm Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Trước hết, quá trình khơi thông dự án phải đặt lợi ích của người dân lên hàng đầu. Đối với người dân trong vùng dự án, cần sớm giải quyết tình trạng đất đai bị quy hoạch "treo", không thể sử dụng hiệu quả nhưng cũng chưa được thu hồi hoặc bồi thường. Những trường hợp đã thu hồi đất nhưng chưa hoàn thành tái định cư cũng cần được xử lý dứt điểm để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Bên cạnh đó, cần quan tâm đến quyền lợi của các khách hàng đã góp vốn, mua sản phẩm tại nhiều dự án nhưng phải chờ đợi trong nhiều năm. Việc tháo gỡ các vướng mắc phải hướng tới bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhóm đối tượng này, qua đó góp phần củng cố niềm tin của xã hội đối với thị trường.

2aoboqr1s1gi417ucpwhn9q8nxt8uz8cioot5rd6.jpg
GS.TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Phạm Hùng

Đối với doanh nghiệp, quan điểm là hỗ trợ để phát triển chứ không phải "giải cứu". Nhiều dự án bị đình trệ do vướng mắc pháp lý khách quan, trong khi doanh nghiệp đã bỏ ra nguồn lực rất lớn. Vì vậy, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách để doanh nghiệp có điều kiện tiếp tục triển khai dự án.

Trong trường hợp doanh nghiệp không còn đủ năng lực tài chính hoặc quản trị, cần tạo cơ chế để chuyển nhượng, chuyển đổi chủ đầu tư hoặc xử lý các tranh chấp phát sinh. Vai trò của Nhà nước là tham gia giải quyết các vướng mắc pháp lý, tạo điều kiện để dự án được tiếp tục triển khai theo đúng quy định, qua đó góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

Về phía Nhà nước, việc xử lý các dự án tồn đọng phải hướng tới mục tiêu đưa các nguồn lực, đặc biệt là đất đai, trở lại phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đất đai là nguồn tài nguyên quan trọng, nếu tiếp tục bị bỏ hoang sẽ gây lãng phí rất lớn.

Cùng với đó, quá trình xử lý phải bảo đảm không để thất thoát tài sản công. Các nghĩa vụ tài chính về đất đai cần được xác định đầy đủ, chính xác và thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật.

"Nếu bảo đảm được ba nguyên tắc này thì sẽ hài hòa được lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Khi đó, việc khơi thông dự án không chỉ dừng ở việc đưa dự án hoạt động trở lại mà còn góp phần khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và mang lại lợi ích thiết thực cho toàn xã hội", GS.TS Hoàng Văn Cường nhấn mạnh.

Cần xử lý nghiêm chủ đầu tư thực hiện sai quy hoạch

Về mặt pháp lý, hiện nay, đã có những chế tài cụ thể để buộc chủ đầu tư phải hoàn thiện hạ tầng xã hội đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật và nhà ở. Tuy nhiên, hai vị khách mời cho rằng, hiện nay việc chấp hành các chế tài này dường như vẫn còn những hạn chế trên thực tế.

TS Trần Xuân Lượng cho rằng, quy định và chế tài đối với các dự án chậm tiến độ đã có trong Luật Đất đai, Luật Nhà ở. Ví dụ dự án chỉ được chậm 24 tháng còn nếu không sẽ bị thu hồi; hay khi bàn giao nhà ở thì phải bàn giao cả hạ tầng kỹ thuật chẳng hạn…

ong-luong.jpg
TS Trần Xuân Lượng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Bất động sản Việt Nam tại chương trình. Ảnh: Phạm Hùng

Thế nhưng, thực tế hiện nay cho thấy đa số các dự án khi người dân về ở nhưng chưa được đầy đủ các hạ tầng, từ đó gây bất cập, khiếu kiện, tranh cãi. Trong thời gian tới, ông Lượng cho rằng, các cơ quan quản lý Nhà nước cần có chế tài mạnh hơn.

Cùng chung quan điểm, GS.TS Hoàng Văn Cường nhìn nhận các quy định pháp luật đã đầy đủ, đồng bộ và chặt chẽ, nhưng trên thực tế thì vẫn có dự án chậm triển khai và thiếu đồng bộ hạ tầng.

Theo ông Cường, có một nguyên nhân phổ biến là vấn đề quy hoạch. Doanh nghiệp làm dự án nhà ở thì chỉ biết làm nhà ở mà không quan tâm đến có trường học, trạm y tế chẳng hạn.

Thứ nữa, có nhiều quy hoạch tổng thể rồi nhưng bản thân các chủ đầu tư lại làm các hạng mục khác nhau, có chủ đầu tư làm nhanh, có chủ đầu tư làm chậm. Điều này khiến các dự án đình trệ. GS.TS Hoàng Văn Cường cũng cho rằng, các chế tài xử lý hiện nay đã có nhưng đôi khi lại chưa quyết liệt. Và đây là vấn đề cơ quan quản lý Nhà nước cần tiếp tục siết chặt.

Xử lý các dự án tồn đọng bằng cơ chế đặc thù

Nhìn nhận về các dự án vướng mắc trong nhiều năm qua đã được tháo gỡ và đang thi công trở lại, từ chỗ có hơn 700 dự án chậm triển khai, đến nay, Hà Nội chỉ còn 300 dự án tồn đọng, GS.TS Hoàng Văn Cường đánh giá, với khoảng 400 dự án được xử lý cho thấy quyết tâm của thành phố Hà Nội rất cao, chỉ đạo quyết liệt từng dự án, quyết sách phù hợp và hữu hiệu.

2aoboqr1rjg1dmijo1df80lznwsjvqfdy7ydf1ge.jpg
GS.TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Phạm Hùng

400 dự án không chỉ giải phóng đất đai, nguồn lực mà có tác động lan tỏa tới phát triển kinh tế. Tuy nhiên, theo ông Cường, còn gần 300 dự án, cần sự quyết liệt cao hơn nữa, đặc biệt phải sử dụng các cơ chế đặc thù, đó là Luật Thủ đô năm 2026 cho phép Hà Nội được xử lý các vấn đề của địa phương.

“Tôi cho rằng với tinh thần quyết liệt của Thủ đô trong thời gian qua, cộng với những cơ chế chính sách đột phá sẽ giải quyết được những dự án tồn đọng, giải quyết được nguồn lực cho xã hội”, GS.TS Hoàng Văn Cường nhìn nhận.

Cơ chế, chính sách đặc thù phải đi đôi với kiểm tra, giám sát

Nói về yêu cầu cán bộ “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” trong lĩnh vực đất đai, GS.TS Hoàng Văn Cường cho rằng, đất đai là vấn đề nhạy cảm và dễ mắc phải sai phạm.

2aoboqr1rflh5scuajtjob0x6fcj7wcthqylu3sw.jpg
GS.TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Phạm Hùng

Theo ông Cường, khi tháo gỡ các dự án khó khăn, đòi hỏi sự linh hoạt, có cách thức xử lý phù hợp với thực tế, vận dụng những chế tài cho phép và trao quyền cho địa phương nhiều hơn. Khi đó, cán bộ sẽ dám làm. Nếu làm đúng thì kết quả tốt, nhưng nếu làm chưa tốt thì có thể thành làm sai, bởi vì dám làm những việc đáng ra không phải làm.

Thứ nhất, khi trao quyền cho địa phương để giải quyết những vấn đề về đất đai, Nhà nước cần có những quy định phù hợp với thực tiễn địa phương, phù hợp với từng nhóm dự án cần được xử lý như nào.

Thứ hai, khi ra quyết định với một dự án nào đó, bản thân người ra quyết định phải nhận thức rõ điều này là tốt cho người dân, cho doanh nghiệp và xã hội, chứ không phải là chỉ tốt cho một bộ phận.

Sau những cơ chế chính sách đặc thù, vượt trội mà Trung ương phân quyền cho thành phố thì Hà Nội cần ban hành quy trình triển khai các dự án, song song với thực hiện cơ chế công khai, minh bạch. Để từ đó, các cơ quan quản lý, người dân, doanh nghiệp nhìn vào và thấy đây là việc làm vì cái chung, vì lợi ích chung.

Cuối cùng là tăng cường kiểm tra, giám sát đồng thời với quá trình triển khai, “giải thoát” các dự án này, không phải chờ cán bộ làm sai hay để xảy ra sai phạm rồi mới tiến hành thanh tra, kiểm tra.

Nhà đầu tư phải cam kết sau tháo gỡ vướng mắc

Theo TS Trần Xuân Lượng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Bất động sản Việt Nam, sau khi được chính quyền hỗ trợ, tháo gỡ vướng mắc, nhà đầu tư cần thể hiện trách nhiệm bằng những cam kết cụ thể, nhất là về tài chính, tiến độ và chất lượng dự án.

2aoboqr1sqdhikjqyzr32ls4f7ghfbz3d5vykvxs.jpg
TS Trần Xuân Lượng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Bất động sản Việt Nam chia sẻ tại chương trình. Ảnh: Phạm Hùng

TS Trần Xuân Lượng cho rằng, trước khi đưa ra quyết định tháo gỡ, các cơ quan chức năng cần bảo đảm công khai, minh bạch thông tin để giảm thiểu rủi ro. Khi quyết định đã được đưa ra trên cơ sở minh bạch, người dân cũng có điều kiện giám sát quá trình triển khai dự án và hạn chế những thắc mắc, nghi ngại.

Ở góc độ nhà đầu tư, ông Lượng cho rằng, trong điều kiện bình thường, lợi nhuận thường là mục tiêu hàng đầu. Tuy nhiên, với những dự án được Nhà nước hỗ trợ tháo gỡ, nhà đầu tư cần đặt lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng lên trước. “Chúng ta phải bằng danh dự của các nhà đầu tư, đặt mục tiêu lớn trước, cộng đồng xã hội trước”, TS Trần Xuân Lượng nhấn mạnh.

Theo ông Lượng, để thể hiện trách nhiệm, nhà đầu tư cần đồng hành với chính quyền và có những cam kết rõ ràng, trong đó có cam kết về tài chính, tiến độ và chất lượng triển khai dự án. “Đấy là ba điều kiện mà tôi nghĩ là cả đối với Nhà nước rồi với chủ đầu tư”, ông Lượng nói.

Khi Nhà nước công khai phương án xử lý, còn chủ đầu tư thể hiện sự sẵn sàng và trách nhiệm, TS Trần Xuân Lượng cho rằng, người dân sẽ có cơ sở để ủng hộ quá trình triển khai dự án.

nguonlucdatdai.jpg
Hà Nội đang sở hữu nguồn lực đất đai rất lớn. Thành phố hiện có hơn 335.984ha đất tự nhiên. Ảnh: Quang Thái

Dự án được gỡ - Điểm nghẽn được khơi thông

Theo TS Trần Xuân Lượng, ở góc độ thị trường, những dự án bị đình trệ 10 năm, thậm chí gần 20 năm được tái khởi động, sẽ có hiệu ứng lan tỏa tới thị trường, hạ tầng, dịch vụ và hoạt động kinh tế của địa phương.

Phân tích cụ thể, TS Trần Xuân Lượng cho rằng, các dự án này nếu được tháo gỡ thì những điểm nghẽn, điểm treo được khơi thông, vì hầu hết đang nằm ở những vị trí rất thuận lợi, xung quanh đã có sẵn hạ tầng. Từ đó, dòng tiền sẽ đổ về, kéo theo hệ sinh thái của dự án tốt lên.

“Chúng ta đã có các nghị quyết, Luật Thủ đô năm 2026 với các cơ chế đặc thù cho Thủ đô. Tôi nghĩ đây là cơ hội rất tốt để làm sạch các dự án và đưa các dự án trở lại hoạt động trong thời gian tới”, TS Trần Xuân Lượng nêu.

Tháo gỡ dự án tồn đọng phải bảo đảm minh bạch, đúng giá trị và rõ trách nhiệm

Theo GS.TS Hoàng Văn Cường, việc Quốc hội ban hành cơ chế đặc thù để tháo gỡ các dự án tồn đọng là bước đi cần thiết nhằm khơi thông nguồn lực đất đai phục vụ phát triển. Tuy nhiên, quá trình thực hiện phải bảo đảm nguyên tắc minh bạch, đúng giá trị và xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể để tránh thất thoát tài sản nhà nước cũng như ngăn ngừa tiêu cực.

GS.TS Hoàng Văn Cường cho rằng, mục tiêu của việc khơi thông các dự án không chỉ là giải quyết những vướng mắc pháp lý, mà còn phải phát huy giá trị của đất đai, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, cần bảo đảm lợi ích của Nhà nước, không để xảy ra thất thoát tài sản công hoặc lợi dụng cơ chế đặc thù để trục lợi.

2aoboqr1rr0acmzmpgz2ely8empqtguvbm46r4na.jpg
GS.TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân chia sẻ tại chương trình. Ảnh Phạm Hùng

"Nếu không kiểm soát tốt, chúng ta có thể giải quyết được các dự án tồn đọng nhưng lại phát sinh những sai phạm mới, ảnh hưởng đến uy tín của bộ máy và niềm tin của xã hội", GS.TS Hoàng Văn Cường nhấn mạnh.

Để thực hiện hiệu quả, trước hết, cần rà soát, phân loại toàn bộ các dự án theo nguyên nhân vướng mắc, trên cơ sở đó, đánh giá đầy đủ các nghĩa vụ tài chính của từng dự án. Những khoản nghĩa vụ với Nhà nước phải được xác định và thực hiện đầy đủ theo quy định. Đối với các tranh chấp, nghĩa vụ giữa doanh nghiệp với khách hàng hoặc các bên liên quan, trước hết, các bên phải có trách nhiệm giải quyết theo hợp đồng. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, Nhà nước cần tham gia với vai trò điều phối, trọng tài nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn và bảo đảm quyền lợi chính đáng của các bên.

Dẫn ví dụ về chủ trương thí điểm Nhà nước mua lại một số dự án nhà ở thương mại đang gặp khó khăn để chuyển đổi thành quỹ nhà ở xã hội hoặc nhà ở cho thuê, GS.TS Hoàng Văn Cường đánh giá đây là giải pháp vừa giúp khơi thông nguồn lực đất đai, vừa bổ sung nguồn cung nhà ở phục vụ các mục tiêu an sinh xã hội. Chủ đầu tư có thể phải chấp nhận thiệt hại nhất định, nhưng sẽ có nguồn lực để giải quyết các nghĩa vụ với khách hàng và các bên liên quan.

Bên cạnh đó, GS.TS Hoàng Văn Cường đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu công khai, minh bạch trong toàn bộ quá trình xử lý dự án. Hồ sơ, quy trình và các quyết định liên quan cần được công khai để xã hội giám sát, hạn chế tối đa nguy cơ lợi dụng cơ chế đặc thù vì lợi ích cá nhân.

"Cùng với sự giám sát của các cơ quan chức năng và của xã hội, việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc minh bạch, đúng giá trị và rõ trách nhiệm sẽ giúp các cơ chế đặc thù phát huy hiệu quả, thực sự trở thành động lực khơi thông nguồn lực cho phát triển, thay vì tạo ra những kẽ hở cho tiêu cực", GS.TS Hoàng Văn Cường khẳng định.

Khơi thông dự án sẽ tạo nguồn lực lớn cho ngân sách và tăng trưởng

Trao đổi về hiệu quả kinh tế khi Hà Nội khơi thông khoảng 300 dự án chậm triển khai, TS Trần Xuân Lượng cho rằng, thành phố sẽ có thêm nguồn lực rất lớn để đầu tư phát triển.

Theo TS Trần Xuân Lượng, nhiều năm qua, nguồn thu từ đất đai luôn là một trong những nguồn thu quan trọng của ngân sách địa phương. Trong bối cảnh Nhà nước đang thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, tăng chi đầu tư công để phát triển hạ tầng, việc khơi thông các dự án sẽ góp phần phát huy hiệu quả nguồn lực này.

ts-5-phamhung.jpg
Thành phố Hà Nội đang tiếp tục rà soát, xử lý các dự án sử dụng đất chậm triển khai, kiên quyết thu hồi đối với những dự án không còn đủ điều kiện thực hiện. Ảnh: Phạm Hùng

"Nếu 300 dự án được khơi thông và đưa vào triển khai thì đây sẽ là nguồn thu ngân sách rất lớn. Từ trước đến nay, nguồn thu lớn và nhanh nhất vẫn đến từ đất đai, từ quyền sử dụng đất. Trong khi chúng ta đang thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, tăng đầu tư hạ tầng thì việc thu tiền sử dụng đất lúc này có ý nghĩa rất quan trọng", TS Trần Xuân Lượng nhấn mạnh.

Khi các dự án được tái khởi động, không chỉ nguồn thu từ đất đai được gia tăng, mà còn tạo ra nhiều nguồn thu khác cho địa phương. Và nếu thành phố sớm đưa các dự án này trở lại triển khai thì ngoài nguồn thu từ đất đai, còn có nguồn thu từ thuế, phí và nhiều nguồn lực khác. Đây sẽ là một nguồn lực rất lớn để tái đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới.

Một dự án, một đầu mối, một thời hạn và có đo lường kết quả

Để chiến dịch rà soát, xử lý 300 dự án chậm triển khai thực sự hiệu quả, giải phóng tài nguyên đất đai, đưa kinh tế Thủ đô tăng trưởng vững chắc đạt mốc hai con số, theo GS.TS Hoàng Văn Cường, hành động mang tính đột phá nhất mà chính quyền Hà Nội cần thực hiện ngay là áp dụng nguyên tắc “Một dự án, một đầu mối, một thời hạn và có đo lường kết quả”.

Cụ thể, mỗi một dự án cần được phân loại để làm rõ nguyên nhân vướng ở đâu? Biện pháp xử lý là gì? Tiếp đến, dự án được giao rõ cho người chịu trách nhiệm, có lộ trình hoàn thành rõ ràng và từng bước thực hiện cụ thể. Điều quan trọng nhất là tiêu chí đo lường, việc giải phóng dự án mang lại những kết quả gì? Khi có tiêu chí, kết quả cụ thể như vậy thì Hà Nội sẽ thực hiện được mục tiêu đặt ra.

ekip-khachmoi120826.jpg
Các khách mời cùng ê-kíp thực hiện chương trình. Ảnh PV

Lượng hóa chỉ tiêu dự án, đa dạng các kênh đầu tư về vốn

TS Trần Xuân Lượng cho rằng, với khối lượng công việc lớn, trước hết, cần thành lập một tổ chức độc lập chịu trách nhiệm xử lý những dự án tồn đọng. Tiếp đó, phân loại ra từng nhóm cụ thể và công khai, minh bạch trên hệ thống dữ liệu quốc gia, để mọi người dân được biết.

Thứ hai, phải lượng hóa được tất cả chỉ tiêu để từ đó mọi người cùng giám sát. Ví dụ, có dự án thiếu vốn, khi người dân thấy được lợi ích từ dòng tiền đầu tư, có thể dự án lại thu hút nguồn lực từ trong dân, giúp dự án có nguồn vốn xã hội lớn.

Thứ ba, đa dạng các kênh đầu tư về vốn, chứ không chỉ bó hẹp phụ thuộc vào quỹ tín dụng, có thể sử dụng quỹ tín thác, các quỹ khác để phục vụ cho dài hạn.

“Với các giải pháp này, tôi tin rằng, Hà Nội sẽ thực hiện thành công việc khơi thông nguồn lực đất đai thông qua xử lý 300 dự án chậm triển khai, góp phần đưa kinh tế Thủ đô tăng trưởng vững chắc, đạt mốc hai con số”, TS Trần Xuân Lượng bày tỏ.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Khơi thông nguồn lực đất đai, hài hòa lợi ích phát triển

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.