Đầu tư

Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài:Đóng góp nguồn thu ngoại tệ giúp ổn định tỷ giá

TS Phan Văn Thường 12/09/2026 - 06:37

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8-6-2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đã đặt ra mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2026-2030 là thu hút vốn đầu tư nước ngoài đăng ký khoảng 200-300 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD. Đây là mục tiêu rất quan trọng, bởi các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không chỉ góp phần quan trọng trong huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, mà còn tạo nguồn thu ngoại tệ chủ đạo, giúp Chính phủ cân bằng ngoại tệ và ổn định tỷ giá.

kcn.jpg
Sản xuất linh kiện điện tử tại Công ty TNHH Katolec Việt Nam (Khu công nghiệp Quang Minh). Ảnh: Quang Thái

Đủ nguồn ngoại tệ chủ động can thiệp tỷ giá

Cùng với cải cách, mở cửa nền kinh tế theo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, năm 1986, Việt Nam bắt đầu thu hút nguồn vốn FDI. Dù vậy, sau hơn hai mươi năm, nguồn vốn này mới thực sự hỗ trợ cân bằng nguồn ngoại tệ quốc gia. Từ năm 1986 đến năm 2011, Việt Nam liên tục đối mặt với nền kinh tế nhập siêu, giá trị nhập siêu hằng năm từ hàng tỷ USD, rồi lên đến chục tỷ USD, đặc biệt năm 2008 giá trị nhập siêu lên đến gần 20 tỷ USD. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam đã có một màn đảo chiều ngoạn mục. Từ năm 2012, Việt Nam chuyển từ quốc gia nhập siêu sang xuất siêu và giữ vững gần như liên tục đến năm 2025 (trừ năm 2015 nhập siêu 3,52 tỷ USD).

Kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 chiếm 54%, tăng lên 72% năm 2020, 77,3% năm 2025 và chiếm 80,1% trong 8 tháng của năm 2026. Kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế lệ thuộc quá lớn vào khu vực doanh nghiệp FDI không phải là tốt, nhưng góc độ đóng góp thực tế về nguồn thu ngoại tệ, phải thừa nhận vai trò lớn của khu vực doanh nghiệp này. Tổng thặng dư giá trị xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI giai đoạn 2021-2025 là 218,46 tỷ USD, đạt bình quân năm là 43,69 tỷ USD.

Cùng với đó, nguồn ngoại tệ thu hút hằng năm thông qua giải ngân vốn FDI đã đăng ký giai đoạn 2021-2025 là 118,29 tỷ USD, đạt bình quân năm là 23,65 tỷ USD. Mặc dù giải ngân vốn FDI đã đăng ký không hoàn toàn là ngoại tệ mặt, mà bao gồm một phần là giá trị máy móc, thiết bị nhập khẩu, song phần này cũng coi như giải ngân ngoại tệ mặt. Như vậy, tổng thặng dư ngoại tệ thể hiện trên tài khoản vốn và tài khoản vãng lai giai đoạn 2021-2025 của khối doanh nghiệp FDI là 336,75 tỷ USD, đạt bình quân năm là 67,35 tỷ USD.

Theo Ngân hàng Nhà nước, những năm gần đây, các doanh nghiệp khối FDI chuyển lợi nhuận về nước bình quân mỗi năm khoảng 11 tỷ USD. Nếu trừ số ngoại tệ “chảy ngược” này, giai đoạn 2021-2025, khối doanh nghiệp FDI có tổng thặng dư ngoại tệ còn lại là 281,75 tỷ USD, bình quân hằng năm là 56,35 tỷ USD. Doanh nghiệp FDI tạo ra thặng dư ngoại tệ lớn, vì vậy giúp Chính phủ chủ động nguồn ngoại tệ trong bù đắp thâm hụt cán cân dịch vụ (một trong 3 cán cân bộ phận của cán cân vãng lai). Giai đoạn 2021-2025, tổng thâm hụt của cán cân dịch vụ là 68,08 tỷ USD, bình quân hằng năm hơn 12,41 tỷ USD. Cùng với đó, nhờ thặng dư nguồn ngoại tệ từ khu vực FDI và nguồn ngoại tệ từ kiều hối bổ sung hằng năm, Ngân hàng Nhà nước đã lựa chọn thời điểm thích hợp mua vào ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại hối, chủ động mua vào, bán ra ngoại tệ can thiệp tỷ giá ngoại tệ kịp thời, hiệu quả.

Cũng theo Ngân hàng Nhà nước, cuối năm 2014, dự trữ ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước chỉ ở mức 34,3 tỷ USD, thì cuối tháng 1-2022 đã tăng lên mức 111,8 tỷ USD, nhưng cuối tháng 6-2026 còn mức 87,6 tỷ USD. Việc tụt giảm mức dự trữ ngoại hối này được giải thích là do Ngân hàng Nhà nước bán ra (bán cho các ngân hàng thương mại) để can thiệp tỷ giá ngoại tệ. Chẳng hạn, từ năm 2022, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) liên tục tăng lãi suất và neo ở mức cao để chống lạm phát, đồng USD tăng giá kỷ lục trên thị trường quốc tế, trong khi Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất điều hành để hỗ trợ nền kinh tế phục hồi hậu đại dịch Covid-19. Đồng USD tăng giá cao, tạo tâm lý kỳ vọng đồng VND tiếp tục giảm giá, liều thuốc mạnh kích thích tâm lý đầu cơ trên thị trường ngoại tệ. Nhờ chủ động nguồn ngoại tệ dự trữ, năm 2022, Ngân hàng Nhà nước đã bán hàng chục tỷ USD can thiệp hạ nhiệt tỷ giá ngoại tệ.

Thặng dư ngoại tệ khối FDI hỗ trợ phần nhập siêu của doanh nghiệp nội

“Cú sốc” giá năng lượng tăng cao và chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy, bởi đe dọa của cuộc xung đột Mỹ và Iran bùng nổ từ cuối tháng 2-2026, đã khiến "bức tranh" xuất nhập khẩu của Việt Nam bị chuyển màu, từ liên tục xuất siêu sang nhập siêu. Tổng giá trị nhập siêu 8 tháng của năm 2026 đã lên tới 20,46 tỷ USD. Tuy nhiên, vấn đề đáng lưu ý là xuất hiện sự lệch pha rất đáng kể giữa khối doanh nghiệp FDI và khối doanh nghiệp nội. Mặc dù kim ngạch nhập khẩu của khối FDI trong 8 tháng của năm 2026 tăng mạnh, chiếm tỷ trọng 73,4% tổng kim ngạch nhập khẩu, nhưng nhờ kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh hơn, chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, nên thặng dư xuất nhập khẩu của khối FDI đạt 10,14 tỷ USD.

Thông tin của Bộ Tài chính cho thấy, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp khối nội trong 8 tháng của năm 2026 là 74,47 tỷ USD, trong khi nhập khẩu là 105,07 tỷ USD, dẫn đến nhập siêu của khối doanh nghiệp này lên tới 30,60 tỷ USD. Nhưng nhờ xuất siêu của khối doanh nghiệp FDI là 10,14 tỷ USD kéo lại, nên tổng nhập siêu 8 tháng chỉ còn 20,46 tỷ USD. Như vậy, thặng dư nguồn ngoại tệ xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI đã hỗ trợ được một phần khá lớn thâm hụt nguồn ngoại tệ xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp nội.

Tại sao doanh nghiệp nội nhập siêu trong 8 tháng của năm 2026 đến 30,60 tỷ USD? Giải thích một cách đơn giản là doanh nghiệp nội có nhu cầu nhập khẩu tăng cao, trong khi khả năng xuất khẩu không theo kịp. Xuất khẩu của khối doanh nghiệp nội tăng chậm, không chỉ trong 8 tháng của năm 2026, mà từ trước đến nay. Việt Nam có lợi thế xuất khẩu các nhóm mặt hàng nông sản, thủy sản và chế biến truyền thống, nhưng bất lợi với xuất khẩu các nhóm mặt hàng có giá trị kim ngạch lớn như: Công nghệ cao, điện tử, linh kiện phức tạp, chế tạo và cơ khí chính xác... Một lý do khách quan giải thích kim ngạch nhập khẩu 8 tháng của năm 2026 của doanh nghiệp nội tăng mạnh là khối doanh nghiệp nội đang nắm phần lớn các ngành thâm dụng năng lượng như: Sản xuất điện, vận tải, phân bón, hóa chất. Xung đột vũ trang giữa Mỹ và Iran tác động làm đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, đẩy giá năng lượng tăng và neo ở mức cao khiến chi phí nhập khẩu các mặt hàng tăng mạnh.

Vẫn khó khăn trong dự báo chính xác cung - cầu ngoại tệ

Áp dụng Tiêu chuẩn quốc tế về quyền kiểm soát, số liệu xuất nhập khẩu phân loại theo khối doanh nghiệp phải phản ánh quyền kiểm soát tối cao và chi phối dòng tiền. Theo đó, với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nào có 50% trở lên vốn đầu tư nước ngoài được xếp vào khối FDI, doanh nghiệp có dưới 50% vốn đầu tư nước ngoài được xếp vào khối doanh nghiệp nội. Tiêu chuẩn thống kê này thực tế đã tính thiếu đóng góp vào kim ngạch xuất nhập khẩu nói chung và thặng dư nguồn ngoại tệ nói riêng của khối doanh nghiệp FDI.

Theo Luật Đầu tư năm 2025, “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”. Nghĩa là, doanh nghiệp mà nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ 50% vốn trở lên, hay sở hữu dưới 50% vốn đều là doanh nghiệp FDI.

Như đề cập ở trên, hằng năm các doanh nghiệp FDI chuyển lợi nhuận về nước khoảng 11 tỷ USD. Chỉ riêng con số này không cho phép đánh giá được lợi nhuận của doanh nghiệp FDI cao hay thấp; nhưng câu chuyện chuyển giá của doanh nghiệp FDI thì đã chứng minh trên thực tế. Chỉ nhìn nhận góc độ quản lý dòng ngoại tệ, có thể ví FDI là “máy chủ tạo ngoại tệ cho quốc gia”, nhưng nếu có hoạt động chuyển giá sẽ trở thành “máy hút ngoại tệ chạy ngược dòng” về nước của tập đoàn đa quốc gia. Phương thức chuyển giá tổng quát của doanh nghiệp FDI là thổi phồng kim ngạch nhập khẩu và thu hẹp kim ngạch xuất khẩu có thể.

Hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp FDI không chỉ trực tiếp làm thất thoát ngân sách nhà nước, mà vấn đề quan trọng ở tầm vĩ mô, gây áp lực lên tỷ giá ngoại tệ. Chẳng hạn, trong khi doanh nghiệp FDI liên tục tăng nhu cầu mua ngoại tệ thanh toán khoản khai khống giá nhập khẩu, thì cung ngoại tệ thu về từ xuất khẩu có thể bị thu hẹp do hạ giá xuất khẩu. Doanh nghiệp FDI có thể hạ giá xuất khẩu khi sản xuất sản phẩm, rồi xuất khẩu ngược lại cho công ty mẹ hoặc công ty liên kết, nơi có thuế suất thấp. Hoạt động này làm cho nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu về hệ thống ngân hàng giảm đáng kể. Điều đó gây khó khăn cho Ngân hàng Nhà nước trong việc dự báo chính xác cung - cầu ngoại tệ thực chất của nền kinh tế.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài: Đóng góp nguồn thu ngoại tệ giúp ổn định tỷ giá

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.