Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai, diễn ra từ ngày 1 đến 4-10-2026 tại Hoàng thành Thăng Long với chủ đề “Hội tụ di sản - Kiến tạo tương lai”, là không gian đặc biệt để những sắc màu văn hóa của Việt Nam và thế giới gặp gỡ, đối thoại và cùng tỏa sáng.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng, sự kiện còn gợi mở một cách tiếp cận quan trọng: Đưa văn hóa trở thành nhịp cầu của lòng tin, nguồn lực của hội nhập và sức mạnh mềm nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Văn hóa - ngôn ngữ của lòng tin và hữu nghị
Có mặt tại Hoàng thành Thăng Long trong những ngày đầu tháng Mười, giữa không gian di sản nghìn năm của Thăng Long - Hà Nội, có thể cảm nhận rất rõ một điều: Văn hóa luôn có khả năng đưa con người đến gần nhau bằng con đường tự nhiên và bền vững nhất. Một làn điệu, một bộ trang phục, một món ăn, một điệu múa hay một câu chuyện về di sản có thể vượt qua khác biệt về ngôn ngữ, địa lý để tạo nên sự đồng cảm. Đó chính là sức mạnh đặc biệt của văn hóa trong quan hệ giữa các dân tộc.
Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai quy tụ đại diện của 50 quốc gia và tổ chức quốc tế, với nhiều không gian văn hóa, ẩm thực, điện ảnh, thời trang và các đoàn nghệ thuật quốc tế. Sự kiện diễn ra đúng dịp kỷ niệm 50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO càng làm nổi bật ý nghĩa của một hành trình: Từ một đất nước từng chịu nhiều mất mát bởi chiến tranh, Việt Nam hôm nay chủ động tham gia, đóng góp và cùng kiến tạo những giá trị chung bằng tinh thần hòa bình, hợp tác và tôn trọng sự đa dạng văn hóa.
Điều đáng nói không chỉ là quy mô của một lễ hội. Quan trọng hơn là cách chúng ta nhìn nhận văn hóa như một cấu phần thiết yếu của hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24-1-2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính đồng bộ, toàn diện và chiều sâu của hội nhập; đồng thời giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, nâng cao sức mạnh tổng hợp, vai trò, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước.
Hội nhập ngày nay vì thế không chỉ được đo bằng số lượng hiệp định, kim ngạch thương mại hay những dòng vốn đầu tư. Hội nhập còn là khả năng một dân tộc được hiểu, được tôn trọng, được tin cậy và được yêu mến. Văn hóa tạo ra một dạng kết nối rất riêng: hiểu biết tạo nên tôn trọng; tôn trọng tạo nên lòng tin; và lòng tin là nền tảng lâu dài của hữu nghị, hợp tác.
Hà Nội có điều kiện đặc biệt để thực hiện vai trò ấy. Là Thủ đô nghìn năm văn hiến, Thành phố vì hòa bình và Thành phố sáng tạo của UNESCO, Hà Nội vừa có chiều sâu di sản, vừa có đời sống sáng tạo ngày càng năng động. Khi Hoàng thành Thăng Long trở thành nơi các nền văn hóa gặp gỡ, giá trị di sản không chỉ nằm trong việc nhắc nhớ quá khứ, mà còn được mở rộng thành năng lực đối thoại với hiện tại và kiến tạo tương lai.

Hội nhập bằng bản sắc, gia tăng sức mạnh mềm quốc gia
Nếu Nghị quyết 59 mở ra một tư duy mới về hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và hiệu quả, thì Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đặt văn hóa vào đúng vị trí của một nguồn lực nội sinh quan trọng trong phát triển đất nước. Đáng chú ý, Nghị quyết 80 xác định nhiệm vụ chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa; phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia; hướng tới xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới.
Nhìn từ tinh thần hai nghị quyết này, Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội là một cách cụ thể hóa sinh động đường lối của Đảng: đưa hội nhập văn hóa từ chủ trương thành không gian trải nghiệm, từ định hướng thành những tương tác thật giữa nghệ sĩ, công chúng, cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và các chủ thể sáng tạo.
Sức mạnh mềm không hình thành bằng những khẩu hiệu về hình ảnh quốc gia. Nó được tích lũy từ khả năng tạo ra sức hấp dẫn, niềm tin và sự đồng cảm. Một người bạn quốc tế yêu tà áo dài, nhớ hương vị phở Hà Nội, xúc động trước Quan họ, Nhã nhạc, một bộ phim Việt Nam hay một sản phẩm thiết kế lấy cảm hứng từ di sản - đó đều là những khoảnh khắc văn hóa đi vào cảm xúc và tạo nên thiện cảm đối với đất nước.
Bởi vậy, cần chuyển mạnh từ tư duy “quảng bá văn hóa” sang “kiến tạo sức hấp dẫn văn hóa”. Quảng bá thường bắt đầu từ điều chúng ta muốn nói; sức hấp dẫn lại bắt đầu từ điều công chúng muốn trải nghiệm, muốn chia sẻ và tự nguyện kể lại. Đó là sự chuyển dịch từ truyền thông một chiều sang đối thoại, từ giới thiệu sản phẩm sang tạo trải nghiệm, từ một chương trình biểu diễn sang hệ sinh thái sáng tạo có khả năng lan tỏa lâu dài.
Cốt lõi của quá trình ấy là bản sắc. Hội nhập sâu rộng không có nghĩa là làm cho mình giống với người khác. Trái lại, trong một thế giới càng kết nối, giá trị của mỗi quốc gia càng nằm ở những đóng góp độc đáo mà quốc gia đó mang tới cho kho tàng chung của nhân loại. Việt Nam đến với thế giới bằng lịch sử, di sản, tiếng Việt, nghệ thuật, ẩm thực, lối sống, tinh thần nhân ái, ý chí tự cường và năng lực sáng tạo của con người Việt Nam.
Bản sắc cũng không phải một khối bất biến cần cất giữ nguyên trạng. Bản sắc chỉ thực sự sống khi được các thế hệ tiếp tục sáng tạo. Quan họ, ca trù, nhã nhạc, tranh dân gian, áo dài hay những câu chuyện lịch sử hoàn toàn có thể bước vào điện ảnh, âm nhạc, thời trang, thiết kế, trò chơi điện tử, nghệ thuật số và các ngành công nghiệp văn hóa. Đó là con đường để di sản chuyển hóa thành nguồn lực sáng tạo, thành sản phẩm có khả năng tham gia thị trường và đối thoại với công chúng toàn cầu.

Hội nhập vì thế không làm bản sắc Việt Nam nhỏ đi. Nếu có bản lĩnh văn hóa và năng lực sáng tạo, hội nhập chính là cơ hội để bản sắc Việt Nam được nhìn thấy rõ hơn, được hiểu sâu hơn và có thêm khả năng đóng góp vào văn minh nhân loại.
Từ một lễ hội đến hệ sinh thái giao lưu văn hóa quốc tế
Giá trị của một lễ hội không nên kết thúc khi sân khấu tắt đèn. Điều quan trọng hơn là sau những ngày hội ấy, chúng ta để lại được những kết nối gì, mở ra những dự án hợp tác nào, có thêm những sản phẩm văn hóa nào đi ra thế giới và hình ảnh Việt Nam được lan tỏa ra sao.
Đó là lý do cần chuyển từ “tư duy sự kiện” sang “tư duy hệ sinh thái”. Một sự kiện có thể tạo chú ý trong vài ngày; một hệ sinh thái có thể tạo ra dòng chảy hợp tác nhiều năm. Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội, nếu được tổ chức đều đặn, chuyên nghiệp và ngày càng có bản sắc, có thể trở thành một thương hiệu văn hóa quốc tế của Thủ đô và của Việt Nam - nơi không chỉ trình diễn mà còn kết nối sáng tạo, công nghiệp văn hóa, du lịch, giáo dục, ngoại giao nhân dân và kinh tế sáng tạo.
Trước hết, cần định vị rõ hơn thương hiệu của lễ hội. “Hội tụ di sản - Kiến tạo tương lai” có thể được nhìn như một triết lý: Hà Nội là nơi di sản Việt Nam gặp gỡ di sản thế giới; từ sự gặp gỡ ấy hình thành những ý tưởng mới, sản phẩm mới và quan hệ hợp tác mới. Khi một lễ hội có định vị rõ, công chúng sẽ biết mình tìm đến để trải nghiệm điều gì và bạn bè quốc tế hiểu vì sao họ cần hiện diện ở Hà Nội.
Thứ hai, phải gắn giao lưu văn hóa với phát triển công nghiệp văn hóa. Mỗi chương trình biểu diễn có thể được số hóa thành nội dung tiếp cận khán giả toàn cầu; mỗi cuộc gặp gỡ nghệ sĩ có thể mở ra dự án đồng sản xuất; mỗi câu chuyện di sản có thể trở thành sản phẩm thiết kế, phim, trò chơi, sản phẩm du lịch hay hàng hóa sáng tạo. Khi đó, văn hóa vừa làm giàu đời sống tinh thần, vừa tạo ra giá trị kinh tế và những việc làm mới.
Thứ ba, cần coi người dân, đặc biệt là thanh niên, là chủ thể của hội nhập văn hóa. Những không gian để người dân trực tiếp trải nghiệm ẩm thực, nghệ thuật, trang phục, điện ảnh của các quốc gia không chỉ là hoạt động vui chơi. Từ trải nghiệm hình thành hiểu biết; từ hiểu biết hình thành sự tôn trọng; từ tôn trọng hình thành năng lực chung sống với khác biệt. Thế hệ trẻ cũng cần được khuyến khích kể lại câu chuyện văn hóa Việt Nam bằng ngôn ngữ mới, đưa các giá trị dân tộc lên nền tảng số và tạo ra những sản phẩm sáng tạo có khả năng đi xa.
Thứ tư, phải huy động rộng rãi nghệ sĩ, trí thức, doanh nghiệp sáng tạo, cơ quan truyền thông, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và mạng lưới bạn bè quốc tế. Đối ngoại văn hóa không thể chỉ là công việc của cơ quan nhà nước. Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo môi trường, hoàn thiện thể chế và tạo nền tảng kết nối; còn sức sống và sức lan tỏa phải đến từ toàn xã hội.
Cuối cùng, hiệu quả của giao lưu văn hóa quốc tế cần được đo bằng kết quả sau sự kiện: những mối quan hệ nào được nối dài, dự án nào được hình thành, sản phẩm văn hóa Việt Nam nào tiếp cận thị trường mới, nghệ sĩ nào có thêm cơ hội hợp tác và mức độ nhận biết, thiện cảm về Việt Nam được nâng lên ra sao. Cách đánh giá ấy giúp chuyển từ chú trọng quy mô tổ chức sang chú trọng tác động dài hạn.
Nghị quyết 59 đặt hội nhập quốc tế trong tầm nhìn nâng cao sức mạnh tổng hợp và vị thế đất nước; Nghị quyết 80 đặt văn hóa vào vị trí nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm của quốc gia. Khi hai dòng tư duy ấy gặp nhau, chúng ta có một định hướng rõ: hội nhập bằng bản sắc, phát triển bằng sáng tạo và nâng cao vị thế bằng những giá trị Việt Nam có khả năng chạm tới trái tim bạn bè quốc tế.
Từ Hoàng thành Thăng Long, nơi lưu giữ chiều sâu lịch sử của dân tộc, những sắc màu văn hóa năm châu đang cùng gặp gỡ. Điều đáng kỳ vọng không chỉ là một lễ hội thành công, mà là từ những cuộc gặp gỡ ấy, Hà Nội và Việt Nam tạo nên những dòng chảy hợp tác văn hóa lâu dài; để văn hóa thực sự trở thành cánh cửa đưa Việt Nam đến gần hơn với thế giới và đưa những giá trị tốt đẹp của thế giới đến gần hơn với Việt Nam.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.