Dù đã được quan tâm đầu tư, Hà Nội vẫn còn nhiều đoạn đê, tuyến đê chưa đáp ứng yêu cầu phòng, chống lũ vượt tần suất và phát triển kinh tế - xã hội. Trước tình hình thiên tai diễn biến cực đoan, khó lường, việc củng cố đê điều theo hướng bền vững, đa mục tiêu là đòi hỏi cấp thiết.
Phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội đã trao đổi với Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Đình Hoa về nội dung này.
Còn nhiều trăn trở trước thiên tai cực đoan
- Hà Nội đã đầu tư nhiều cho đê điều, nhưng vì sao vẫn chưa thể yên tâm trước các kịch bản lũ cực đoan, thưa ông?

- Trước hết phải khẳng định, hệ thống đê điều Hà Nội giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ an toàn Thủ đô. Thành phố hiện có hơn 626,5km đê được phân cấp; dọc các tuyến đê có 182 kè lát mái hộ bờ, 291 cống qua đê, cùng hệ thống cửa khẩu, điếm canh đê, kho vật tư và giếng giảm áp. Những năm qua, trung ương và thành phố đã quan tâm đầu tư, nâng cấp nhiều tuyến đê. Các tuyến đê từ cấp III đến cấp đặc biệt cơ bản bảo đảm khả năng chống lũ theo mực nước thiết kế.
Tuy nhiên, với đê điều, chúng ta tuyệt đối không thể chủ quan. Một số tuyến được xây dựng từ lâu, mặt cắt hẹp, kết cấu chưa đồng bộ; nhiều đoạn vừa chống lũ, vừa gánh thêm vai trò giao thông. Đáng chú ý, một số tuyến đê cấp IV, cấp V và đê chưa được phân cấp còn thiếu cao trình chống lũ theo quy hoạch, phổ biến từ 0,5m đến 2,1m. Riêng đê tả Bùi, đê hữu Bùi và một số tuyến đê bao khi có lũ lớn vẫn phải tổ chức chống tràn.
Điều đáng lo là thiên tai hiện nay không còn diễn ra theo những kịch bản quen thuộc. Yêu cầu bảo vệ của hệ thống đê cũng ngày càng cao hơn khi Hà Nội phải tính đến quy mô dân số từ hơn 8,5 triệu người hiện nay lên khoảng 14 triệu người vào năm 2045. Vì vậy, câu chuyện không phải là đã đầu tư rồi thì yên tâm, mà là phải tiếp tục rà soát, củng cố để hệ thống đê điều đủ sức chống chịu trước các tình huống cực đoan hơn.
- Từ các trận lũ lớn năm 2024, 2025, theo ông, bài học lớn nhất với công tác bảo vệ đê của Hà Nội là gì?
- Các năm 2024, 2025 đã xuất hiện lũ đặc biệt lớn, lập mốc lũ lịch sử mới trên một số tuyến sông như: Sông Cầu, sông Công, sông Tích, sông Bùi; vượt xa mực nước thiết kế, gây tràn đê trên diện rộng và nguy cơ vỡ đê rất cao. Đây là cảnh báo rất rõ: Nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm cũ, tiêu chuẩn cũ, cách ứng phó cũ thì sẽ khó bảo đảm an toàn.
Bài học đầu tiên là phải chuẩn bị từ sớm, từ xa. Công tác hộ đê không thể đợi có lũ mới làm. Năm 2026, thành phố đã xây dựng phương án hộ đê và bảo vệ trọng điểm xung yếu phòng, chống thiên tai, trong đó đặt ra các kịch bản hộ đê toàn tuyến, ứng phó lũ vượt tần suất thiết kế, phòng, chống lũ rừng ngang, lũ quét và một số loại hình thiên tai khác.
Qua rà soát trước lũ, thành phố xác định 5 trọng điểm xung yếu cấp thành phố và 22 trọng điểm xung yếu cấp xã. Các khu vực như: Đê, kè Xuân Canh - cống Long Tửu; cống Liên Mạc; cống Cẩm Đình; khu vực đê hữu Cầu thuộc xã Đa Phúc; cụm công trình cống qua đê Yên Sở đều phải được theo dõi chặt chẽ.
Bài học thứ hai là phát hiện sớm và xử lý ngay từ giờ đầu. Trong hộ đê, một vết thấm nhỏ, một mạch sủi nhỏ, nếu được phát hiện sớm thì có thể xử lý được, nhưng nếu chậm trễ, hậu quả sẽ rất khó lường.
- Trong mùa mưa bão 2026, điều gì khiến Sở Nông nghiệp và Môi trường lo nhất: Công trình, con người hay cách tổ chức ứng phó?
- Tôi cho rằng, phải nhìn cả ba yếu tố. Công trình có nơi còn hạn chế; con người, nhất là lực lượng cơ sở, có nơi còn thiếu kinh nghiệm xử lý tình huống lớn; còn tổ chức ứng phó nếu không rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm thì rất dễ lúng túng khi sự cố xảy ra.
Về công trình, một số tuyến đê khô nhiều năm chưa phải thử thách với lũ lớn. Đê lâu không có lũ không có nghĩa là an toàn tuyệt đối. Có những ẩn họa về nền đê, thân đê, cống dưới đê, mạch đùn, mạch sủi, thấm qua thân đê chỉ bộc lộ khi mực nước sông lên cao, duy trì dài ngày.
Về tổ chức ứng phó, thành phố yêu cầu thực hiện nghiêm phương châm “4 tại chỗ”, phân rõ trách nhiệm từng cấp, từng ngành. Các xã, phường có đê phải xây dựng phương án hộ đê cấp xã, chủ động xử lý sự cố ngay khi mới phát sinh.
Điều chúng tôi lo nhất là sự cộng hưởng của nhiều yếu tố bất lợi: Thiên tai cực đoan hơn, đô thị hóa nhanh hơn, dân cư đông hơn, tài sản và hạ tầng ven sông lớn hơn. Khi rủi ro xảy ra, thiệt hại không chỉ là sản xuất nông nghiệp, mà còn tác động đến giao thông, đô thị và dân sinh.

Phát triển bền vững, đa mục tiêu
- Vì sao Hà Nội phải chuyển từ tư duy gia cố đê để chống lũ sang xây dựng hệ thống đê điều bền vững, đa mục tiêu, thưa ông?
- Chống lũ vẫn là nhiệm vụ số một, không thể thay đổi. Nhưng trong điều kiện phát triển hiện nay, nếu chỉ nhìn đê như một công trình ngăn lũ thì chưa đủ. Đê điều Hà Nội còn gắn với giao thông, chỉnh trang đô thị, cảnh quan ven sông, du lịch sinh thái và phát triển kinh tế - xã hội vùng ven đê, ven sông.
Thực tế, nhiều tuyến đê đã và đang được sử dụng làm đường giao thông. Nếu đầu tư đồng bộ, hệ thống đê có thể hình thành hơn 770km đường giao thông với chi phí giải phóng mặt bằng không đáng kể; đồng thời tạo quỹ đất phát triển, cải thiện cảnh quan, phát huy giá trị lịch sử - văn hóa của đê điều. Nhưng an toàn vẫn phải là nền tảng. Nếu chỉ mở đường, chỉnh trang mà không bảo đảm an toàn thân đê, nền đê, hành lang thoát lũ thì càng nguy hiểm.
- Đê kết hợp giao thông, cảnh quan, phát triển ven sông liệu có làm tăng áp lực lên an toàn đê điều không?
- Đê là công trình phòng, chống thiên tai đặc biệt quan trọng, nên mọi dự án kết hợp giao thông, cảnh quan, đô thị ven sông đều phải đặt an toàn đê điều lên trước. Không thể vì mở đường hay chỉnh trang mà làm suy giảm ổn định nền đê, thân đê, mái đê, cống dưới đê hoặc hành lang thoát lũ.
Nhiều năm qua, thành phố đã dành nguồn lực lớn cho lĩnh vực này. Giai đoạn 2011-2015, Hà Nội đầu tư xây dựng, nâng cấp, sửa chữa khoảng 190km đê với kinh phí khoảng 1.780 tỷ đồng. Giai đoạn 2016-2020, tiếp tục đầu tư, nâng cấp, sửa chữa khoảng 150km đê, kinh phí khoảng 2.360 tỷ đồng. Giai đoạn 2021-2025, khối lượng đầu tư, nâng cấp, sửa chữa khoảng 280km đê, kinh phí khoảng 5.940 tỷ đồng.
Tuy nhiên, so với quy mô hệ thống đê rất lớn và yêu cầu phát triển trong tương lai, nguồn lực đầu tư vẫn chưa đáp ứng toàn bộ nhu cầu. Theo dự thảo kế hoạch, tổng kinh phí thực hiện nâng cấp đê khoảng 35.411 tỷ đồng. Trong đó, năm 2026 dự kiến xử lý các công trình chuyển tiếp và danh mục ưu tiên; giai đoạn 2026-2030, ưu tiên đầu tư nâng cấp khoảng 330km đê với kinh phí 16.006 tỷ đồng; sau năm 2030, đầu tư nâng cấp khoảng 305km đê còn lại với kinh phí 13.187 tỷ đồng.
- Với nguồn lực dự kiến rất lớn, theo ông, cần phải làm thế nào để việc nâng cấp đê không manh mún, không chạy theo phong trào, mà thật sự tạo ra hệ thống an toàn lâu dài cho Thủ đô?
- Trước hết phải có danh mục ưu tiên rõ ràng. Tuyến nào, đoạn nào cấp bách về an toàn lũ phải làm trước; tuyến nào có khả năng kết hợp giao thông, cảnh quan, phát triển đô thị thì tính toán đồng bộ. Thứ hai là mọi dự án liên quan đến đê điều phải đánh giá đầy đủ tác động đến nền đê, thân đê, mái đê, hành lang bảo vệ đê, cống dưới đê và khả năng hộ đê khi có sự cố. Thứ ba là tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành và chính quyền cơ sở.
Từ năm 2027 trở đi, danh mục, thứ tự ưu tiên các hạng mục công trình phải được thống nhất giữa Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường; trong đó Sở Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm xác định các vị trí xung yếu, cần thiết đầu tư theo tiến độ. Thứ tư là gắn đầu tư công trình với quản lý, bảo trì và xử lý vi phạm.
Hà Nội không chỉ củng cố đê để chống một mùa lũ, mà phải xây dựng hệ thống đê điều đủ sức bảo vệ Thủ đô trong dài hạn. Đê điều phải tiếp tục là lá chắn an toàn của thành phố, đồng thời trở thành không gian phát triển mới. Muốn vậy, đầu tư cho đê điều không thể manh mún, càng không thể chậm trễ trước các kịch bản thiên tai cực đoan.
- Trân trọng cảm ơn ông!
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.