Có đơn hàng nhưng thiếu vốn để triển khai, cần đầu tư máy móc song tài sản bảo đảm hạn chế,... doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đang phải đối mặt với nhiều trở ngại trên con đường mở rộng sản xuất.
Có đơn hàng, vẫn lo thiếu vốn sản xuất
Tại hội thảo “Kết nối cơ hội đơn hàng - Nâng năng lực cung ứng và giải pháp vốn cho doanh nghiệp” tổ chức ngày 27-10 tại Hà Nội, khoảng trống thu - chi được đặt ra như một nút thắt đáng chú ý.
Bà Bùi Thu Trang, Trưởng phòng Ban Quản lý Khách hàng Doanh nghiệp BIDV chỉ ra bốn điểm nghẽn vốn của doanh nghiệp cung ứng: thiếu tài sản bảo đảm; vốn lưu động bị “kẹt” do chu kỳ sản xuất dài, công nợ phải thu lớn; thông tin tài chính chưa minh bạch; rủi ro tỷ giá và thanh toán quốc tế. Những khó khăn này có thể cộng hưởng, làm thu hẹp khả năng xoay vòng vốn khi doanh nghiệp muốn tăng sản lượng.
Nhu cầu vốn không chỉ để duy trì đơn hàng hiện tại. Muốn nhận hợp đồng lớn hơn, doanh nghiệp phải bổ sung máy móc, dây chuyền, nhà xưởng và hệ thống kiểm soát chất lượng, thậm chí đầu tư trước khi có đơn hàng. Trong khi đó, giá trị tài sản hiện có chưa chắc tương xứng với số tiền cần vay; vốn ngắn hạn cũng không phù hợp nếu sử dụng cho đầu tư dài hạn.
Từ kinh nghiệm tham gia chuỗi cung ứng quốc tế, TS. Nguyễn Trung Kiên, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn CNCTech cho biết, khách hàng lớn không chỉ đánh giá chất lượng và giá bán. Họ còn xem xét khả năng giao hàng ổn định, mở rộng công suất và sức khỏe tài chính của đối tác. Nhà cung ứng cần đủ vốn lưu động để thực hiện những đơn hàng lớn, kéo dài.
Theo TS. Nguyễn Trung Kiên, để bước vào chuỗi cung ứng, doanh nghiệp phải trải qua quá trình tiếp cận khách hàng, báo giá, làm mẫu, đánh giá nhà máy, thực hiện đơn hàng thử rồi mới có cơ hội nhận đơn hàng lặp lại. Đầu tư công nghệ, chứng nhận chất lượng và quản trị vận hành thường đi trước kết quả kinh doanh. Thiếu vốn vì thế không chỉ ảnh hưởng sản xuất trước mắt mà còn làm giảm cơ hội phát triển dài hạn.

Ở góc độ chính sách, TS. Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (Bộ Công Thương) nhận định các chính sách ưu đãi tín dụng, hỗ trợ lãi suất cho công nghiệp hỗ trợ đã được triển khai nhưng hiệu quả tiếp cận còn hạn chế. Vướng mắc về đối tượng, điều kiện hưởng ưu đãi và thủ tục giải ngân khiến doanh nghiệp nhỏ và vừa khó huy động vốn dài hạn để đổi mới máy móc, công nghệ. Khoảng cách từ chính sách đến thực tế thụ hưởng vẫn cần được thu hẹp.
Khơi thông dòng vốn, mở đường cho sản xuất
Từ những khó khăn trên, vấn đề không đơn thuần là tăng hạn mức tín dụng. Doanh nghiệp cần nguồn vốn đến đúng thời điểm, có kỳ hạn phù hợp chu kỳ thu tiền và hình thức bảo đảm sát đặc thù sản xuất. Khoản vay đầu tư dây chuyền phải khác khoản vay mua nguyên liệu; doanh nghiệp đã giao hàng nhưng chờ thanh toán lại cần giải pháp riêng.
Theo bà Bùi Thu Trang, BIDV triển khai giải pháp tài chính xuyên suốt vòng đời đơn hàng. Khi chuẩn bị năng lực sản xuất, doanh nghiệp có thể vay trung và dài hạn đầu tư máy móc, dây chuyền, nhà xưởng với kỳ hạn gắn dòng tiền dự án. Ở khâu ký hợp đồng có các hình thức bảo lãnh; khi sản xuất có vốn mua nguyên liệu, tài trợ thanh toán nhập khẩu hoặc chi phí logistics theo điều kiện cụ thể.
Điểm đáng chú ý là hướng tài trợ gắn với hoạt động kinh doanh, thay vì chỉ dựa vào tài sản cố định. Ngân hàng giới thiệu các phương án bảo đảm linh hoạt bằng lô hàng nhập khẩu, hợp đồng đầu ra, khoản phải thu; đồng thời triển khai bao thanh toán, chiết khấu chứng từ và tài trợ hóa đơn. Với nhà cung cấp trong chuỗi đáp ứng điều kiện, nền tảng BIDV SCF có thể giúp nhận tiền sớm, giảm áp lực chờ bên mua thanh toán. Việc cấp tín dụng vẫn phụ thuộc quá trình thẩm định từng trường hợp.
Về chính sách, TS. Nguyễn Văn Hội cho biết Nghị định số 205/2025/NĐ-CP bổ sung hỗ trợ đối với công nghiệp hỗ trợ, trong đó có mức tối đa 50% kinh phí đầu tư máy móc, thiết bị, phần mềm, chuyển giao công nghệ và 70% kinh phí thuê chuyên gia, tư vấn chuyển giao công nghệ cho đối tượng đủ điều kiện. Theo TS. Nguyễn Văn Hội, cần chú trọng hướng dẫn hồ sơ, làm rõ thủ tục thực hiện để nguồn lực hỗ trợ thực sự đến được doanh nghiệp.
Việc khơi thông vốn cũng đòi hỏi sự chủ động từ doanh nghiệp. Đại diện BIDV lưu ý cần chuẩn bị báo cáo tài chính minh bạch, hợp đồng và đơn hàng đầu ra rõ ràng, phương án sử dụng vốn, kế hoạch trả nợ và dữ liệu dòng tiền nhất quán. Đó là cơ sở để ngân hàng đánh giá rủi ro, thiết kế khoản vay sát nhu cầu thay vì áp một phương thức cấp vốn cho mọi doanh nghiệp.

Ở góc độ sản xuất, bà Trần Thị Thu Trang, Chủ tịch Công ty cổ phần Công nghệ Thế hệ Mới Hanel PT nhấn mạnh vốn chỉ phát huy tác dụng khi doanh nghiệp xác định đúng điểm nghẽn và nâng cao hiệu quả quản trị. Mua máy móc mới phải đi cùng cải tiến quy trình, đào tạo nhân lực; hiệu quả cần đo bằng sản lượng đạt chuẩn, chi phí đơn vị, lợi nhuận và dòng tiền sau đầu tư. Nếu không tính đến khả năng thu hồi vốn, mở rộng quy mô có thể tạo thêm áp lực tài chính.
TS. Nguyễn Trung Kiên cũng gợi mở hướng liên kết theo cụm, hợp tác với doanh nghiệp đầu chuỗi để cùng nhận đơn hàng lớn, bổ sung công nghệ và năng lực sản xuất. Giải pháp này không thay thế tín dụng, nhưng có thể giúp doanh nghiệp nhỏ tránh đầu tư dàn trải, xây dựng phương án kinh doanh khả thi hơn.
Khơi thông vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cần kết hợp sản phẩm tín dụng linh hoạt, chính sách hỗ trợ dễ tiếp cận và năng lực tự chuẩn bị của doanh nghiệp. Khi dòng vốn phù hợp với chu kỳ đơn hàng và kế hoạch mở rộng sản xuất, cơ hội thị trường mới có thể chuyển thành công suất, việc làm và tăng trưởng bền vững.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.