Môi trường

Gỡ điểm nghẽn môi trường Thủ đô: Từ xử lý bị động đến quản trị chủ độngBài cuối: Rõ dữ liệu, rõ trách nhiệm, rõ hiệu quả

Nhóm phóng viên 18/09/2026 - 06:09

Gỡ điểm nghẽn môi trường không thể chỉ bằng việc thêm một nhà máy xử lý, một đợt ra quân hay một chiến dịch ngắn hạn. Thành phố Hà Nội cần tháo gỡ đồng bộ các nút thắt về quỹ đất, công nghệ, cơ chế và dữ liệu; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của chính quyền cơ sở, doanh nghiệp và người dân trong toàn bộ dòng chất thải phát sinh hằng ngày. Mục tiêu cuối cùng là chuyển từ xử lý ô nhiễm đã xảy ra sang chủ động ngăn ô nhiễm phát sinh.

chat-thai-xd.jpg
Điểm xử lý chất thải xây dựng tại phường Yên Sở. Ảnh: Đức Duy

Hoàn thiện hạ tầng môi trường

Để quản trị môi trường theo hướng chủ động, trước hết phải hoàn thiện hạ tầng môi trường. Với chất thải xây dựng, thành phố Hà Nội đã quy hoạch 8 địa điểm xử lý với tổng công suất dự kiến khoảng 7.640 tấn/ngày vào năm 2030. Thành phố đồng thời nghiên cứu các địa điểm tạm thời để tiếp nhận, lưu giữ và xử lý đất đào, chất thải xây dựng, bùn thải trong thời gian chờ các cơ sở chính thức hoàn thiện.

Trong các phương án đang được tính toán có 81 địa điểm có khả năng tiếp nhận, lưu giữ, xử lý tạm thời với tổng quy mô hơn 233ha tại địa bàn các xã, phường. Điều quan trọng là phải biến những con số quy hoạch thành mạng lưới vận hành thực tế. Một cơ sở xử lý không thể hoạt động hiệu quả nếu quá xa nơi phát sinh chất thải; một điểm trung chuyển không thể tồn tại nếu thiếu đường kết nối. Hay dự án không thể hình thành nếu cơ chế đầu tư chưa rõ và một cơ sở xử lý không thể được coi là lời giải nếu lại phát sinh nguy cơ ô nhiễm mới.

Quy hoạch hạ tầng môi trường vì vậy phải được nhìn như một chuỗi liên hoàn: Phát sinh - thu gom - vận chuyển - tiếp nhận - xử lý - tái chế - tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt với chất thải xây dựng, khoảng 90% là đất, cát, đá, gạch, bê tông và vật liệu vô cơ, có tiềm năng tái sử dụng khá lớn. Nếu được phân loại, nghiền, sàng và xử lý phù hợp, một phần chất thải đó có thể trở thành vật liệu san lấp, làm đường hoặc phục vụ các công trình theo tiêu chuẩn. Nhưng để biến chất thải thành tài nguyên, công nghệ mới chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ là phải có thị trường.

GS.TS Hoàng Xuân Cơ, chuyên gia Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam cho rằng, Hà Nội cần xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng và có cơ chế khuyến khích, tạo đầu ra cho vật liệu tái chế, nhất là trong các công trình đầu tư công, hạ tầng và san nền. Khi sản phẩm tái chế đạt chuẩn có thị trường, nguồn lực xã hội mới có động lực đầu tư vào nhà máy xử lý. Đây là điểm rất quan trọng của kinh tế tuần hoàn. Không thể kêu gọi doanh nghiệp biến rác thành tài nguyên nếu sau đó không có nơi tiêu thụ tài nguyên đó.

Bài toán bùn thải cũng cần được tổ chức theo hướng phân loại ngay từ đầu. Bùn từ thoát nước, hồ, công trình ngầm hay dự án đường sắt đô thị không hẳn là có tính chất giống nhau. Việc cần là xác định nguồn gốc, thành phần, mức độ ô nhiễm để quyết định loại nào có thể tái sử dụng sau xử lý, loại nào phải xử lý nghiêm ngặt. Việc nghiên cứu, thử nghiệm tái chế bùn cần tiếp tục được đánh giá về tính an toàn và khả năng ứng dụng.

Với các dự án đường sắt đô thị, đất đào và bùn thải phải được tính toán ngay từ khâu chuẩn bị, tránh tình trạng công trình hoàn thành từng phần nhưng phương án xử lý chất thải lại đi sau. Với rác sinh hoạt, công nghệ đốt phát điện tiếp tục là giải pháp quan trọng để giảm chôn lấp. Tuy nhiên, năng lực xử lý cuối cùng cần được đặt trong một hệ thống rộng hơn: Giảm phát sinh, phân loại tại nguồn, tái sử dụng, tái chế và chỉ đưa phần còn lại vào xử lý.

Muốn vậy, phân loại rác không thể là một phong trào ngắn hạn. Nó phải có hạ tầng đi kèm. Người dân phân loại nhưng xe thu gom trộn lại thì không có ý nghĩa. Doanh nghiệp có nguyên liệu tái chế nhưng nguồn cung không ổn định thì khó đầu tư. Vật liệu tái chế đạt chuẩn nhưng công trình không sử dụng thì không thể hình thành thị trường… Từng mắt xích phải được kết nối. Quản lý chất thải hiệu quả không phải là tìm nơi cuối cùng để đưa rác đến, mà là thiết kế được một dòng chảy mà trong đó càng ít tài nguyên bị bỏ đi càng tốt.

Kết nối dữ liệu, quản trị theo hệ thống

Nếu quỹ đất, công nghệ và thị trường tạo nên “hạ tầng vật chất”, thì dữ liệu và trách nhiệm tạo nên “hạ tầng quản trị”. Trong chính quyền địa phương 2 cấp, 126 xã, phường phải trở thành những mắt xích trực tiếp của hệ thống quản lý môi trường. Mỗi địa bàn cần có bức tranh riêng về các nguồn phát sinh: Công trường xây dựng, điểm tập kết rác, tuyến đường có nguy cơ phát tán bụi, cơ sở sản xuất, làng nghề, khu vực có nguy cơ đốt phụ phẩm, các điểm thường xuyên bị đổ trộm. Danh sách này không thể chỉ lập một lần rồi để đó, mà phải được cập nhật bằng dữ liệu: Công trường phải gắn với chủ đầu tư, nhà thầu, thời gian thi công và phương án kiểm soát bụi; điểm đổ trộm phải có dữ liệu về vị trí, thời gian, phương tiện và đơn vị liên quan; một điểm đốt ngoài trời phải được phát hiện, xử lý và cập nhật kết quả.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Minh Tấn cho rằng, quản trị môi trường phải hướng tới minh bạch và cá thể hóa trách nhiệm. Khi công tác thu gom được phân cấp về 126 xã, phường, lãnh đạo cơ sở phải chịu trách nhiệm trực tiếp nếu để tái diễn tình trạng đổ rác không đúng nơi quy định, đốt rác hoặc để điểm ô nhiễm kéo dài. Đây là yêu cầu rất khác với cách quản lý “cha chung không ai khóc”. Phân cấp không thể chỉ là giao thêm nhiệm vụ, mà phải đi cùng quyền hạn, công cụ, dữ liệu và trách nhiệm.

PGS.TS Bùi Thị An, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng cho rằng, nhận diện nguồn ô nhiễm phải được lượng hóa, không thể chỉ dừng ở đánh giá định tính. Thành phố Hà Nội cần mạng lưới cảm biến, trung tâm điều hành và hệ thống dữ liệu kết nối giữa giao thông, xây dựng và 126 xã, phường. Khi hệ thống xác định được nguồn, khu vực và mức độ ảnh hưởng, cơ quan quản lý phải có khả năng hành động, truy trách nhiệm và xử lý vi phạm, kể cả theo hướng “phạt nguội”. Điều này đặt ra yêu cầu mới đối với dữ liệu môi trường. Một trung tâm điều hành không thể chỉ hiển thị những biểu đồ đẹp, mà phải trả lời được câu hỏi: Hôm nay cần xử lý việc gì, ở đâu, ai xử lý và kết quả đến đâu. Dữ liệu về chất lượng không khí phải có khả năng kết nối với dữ liệu giao thông, xây dựng, thời tiết và nguồn phát thải. Dữ liệu về điểm đổ trộm phải kết nối với dữ liệu về vệ sinh môi trường, đất đai, trật tự đô thị và phương tiện vận chuyển. Khi các dữ liệu được kết nối, một vi phạm không còn là sự việc riêng lẻ mà trở thành một phần của chuỗi trách nhiệm.

Một số chuyên gia môi trường đề xuất, mô hình xe điện, GPS, camera và trung tâm điều hành tại phường Hoàn Kiếm có thể được nghiên cứu nhân rộng, nhưng không nhất thiết sao chép nguyên trạng. Điều cần nhân rộng là nguyên tắc: Xanh hơn, cơ giới hóa hơn, số hóa hơn và minh bạch hơn. Khu vực trung tâm có thể cần phương tiện điện nhỏ gọn và nhiều camera hơn; khu vực ngoại thành cần mô hình thu gom phù hợp với khoảng cách và mật độ dân cư; địa bàn có làng nghề phải chú trọng nguồn phát thải sản xuất; nơi có nhiều công trường phải kiểm soát chặt hoạt động vận chuyển đất, phế thải.

Cùng với chính quyền, doanh nghiệp cần được đặt vào đúng vị trí trong chuỗi trách nhiệm. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm về chất thải của dự án; nhà thầu chịu trách nhiệm về biện pháp thi công; đơn vị vận chuyển chịu trách nhiệm không rơi vãi, không đổ trộm; doanh nghiệp xử lý chịu trách nhiệm về công nghệ và tiêu chuẩn môi trường.

Người dân cũng không thể đứng ngoài. Phân loại rác, bỏ rác đúng nơi, không đốt rác, không đổ chất thải tùy tiện và tham gia giám sát cộng đồng chính là những mắt xích đầu tiên của quản trị môi trường. Có thể hình dung đây là một “hợp đồng trách nhiệm”: Chính quyền tạo thể chế và hạ tầng; doanh nghiệp cung cấp công nghệ, dịch vụ và tuân thủ; người dân thay đổi hành vi và giám sát.

Cuối cùng là cần thay đổi thước đo, không chỉ đo tỷ lệ thu gom mà đo cả tỷ lệ cơ giới hóa; chất lượng điểm tập kết; số điểm đổ trộm được xử lý dứt điểm; số vụ đốt ngoài trời được ngăn chặn; tỷ lệ chất thải được tái sử dụng, tái chế; số phản ánh của người dân được giải quyết và mức độ duy trì kết quả sau can thiệp. Khi đó, hiệu quả vệ sinh môi trường mới gắn với chất lượng sống.

Gỡ điểm nghẽn môi trường Thủ đô không phải là xây thêm một công trình để xử lý những gì đã phát sinh, mà là xây dựng một hệ thống đủ thông minh để ngăn những vấn đề có thể xảy ra. Đó là chuyển từ quản lý từng khâu sang quản trị toàn bộ dòng chất thải; từ phản ứng sau ô nhiễm sang cảnh báo và phòng ngừa; từ dữ liệu phân tán sang dữ liệu liên thông.

Một đô thị xanh không được tạo nên chỉ bởi những nhà máy xử lý chất thải hiện đại, mà được tạo nên từ hàng nghìn quyết định đúng mỗi ngày của cơ quan quản lý các cấp và các chủ thể liên quan: Công trường che chắn đúng, xe vận chuyển không làm rơi vãi, người dân phân loại rác, chính quyền cơ sở xử lý ngay điểm đổ trộm, doanh nghiệp đầu tư công nghệ tái chế và hệ thống dữ liệu cảnh báo đúng lúc.

Khi rác có chỗ chứa, công nghệ có đầu ra, dữ liệu có giá trị, trách nhiệm có địa chỉ và người dân cùng tham gia, những điểm nghẽn môi trường mới thực sự được tháo gỡ. Khi đó, mục tiêu của quản lý môi trường cũng thay đổi: Không phải chạy theo để xử lý hết những gì đã phát sinh, mà chủ động làm cho đô thị phát sinh ít chất thải hơn, ít ô nhiễm hơn và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn. Đó chính là bước chuyển từ xử lý bị động sang quản trị chủ động mà thành phố Hà Nội cần hướng tới.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Gỡ điểm nghẽn môi trường Thủ đô: Từ xử lý bị động đến quản trị chủ động Bài cuối: Rõ dữ liệu, rõ trách nhiệm, rõ hiệu quả

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.