Giữ "mạch ngầm" văn hóa đình Tàm Xá
Đến Tàm Xá vào những ngày cuối tháng 8, không gian vùng ven sông Hồng khoáng đạt rộng mở. Mái đình làng vừa hoàn thành đợt đại trùng tu khang trang, bề thế...


Theo các nguồn di văn cổ, địa giới của làng bãi này từng trải qua những biến động lịch sử sâu sắc qua nhiều triều đại. Thời Lê Trung hưng, đình chùa thuộc châu Tàm Xá, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc. Sang thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn (thời vua Minh Mệnh, Thiệu Trị), vùng đất này lại thuộc về tỉnh Sơn Tây, nằm trong địa phận huyện Yên Lãng, phủ Vĩnh Tường. Đến đầu thế kỷ XX (thời vua Duy Tân và Khải Định), Tàm Xá được chuyển về thuộc huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông trước khi ổn định vị trí địa lý như ngày nay.
Dù trải qua nhiều lần tách - nhập địa giới hành chính đến khi thuộc xã Vĩnh Thanh như hiện nay, tính thuần nhất trong đời sống tâm linh của cư dân bãi bồi vẫn quy tụ trọn vẹn về cụm di tích đình - chùa Tàm Xá (Linh Ứng Tự). Ngôi đình là nơi tôn nghiêm phụng thờ 5 vị Thành hoàng làng: Tam vị Tản Viên Sơn Thánh (Tản Viên Đại Vương, Cao Sơn Đại Vương, Quý Minh Đại Vương), Thần Long Linh Đại Vương - vị thần sông nước che chở cho cư dân bãi bồi, cùng Thần Quang Nghị Đại Vương và Cẩm Phu nhân công chúa.
Từng dành nhiều năm tâm huyết tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử quê hương, ông Lê Đăng Thành (nay đã ở tuổi 80, trú tại thôn Đoài, xã Vĩnh Thanh) chia sẻ: Cứ liệu lịch sử lâu đời chứng minh bề dày lịch sử của di tích chính có lẽ phải kể đến tấm bia đá "Tàm Xá Châu Tạo Bi" lập năm Tân Mão (1651) thời Lê Trung hưng.
Dòng chữ Hán khắc trên trán bia: “Tàm Xá Châu An Lãng huyện, Tam Đới phủ... Nguyên tiền triều cổ tích, Linh Ứng Tự Thần Từ Nhị Đẳng Thạch Bi” cho thấy, ngay từ trước thế kỷ XVII, nơi đây đã là vùng đất danh thắng có chùa, đền và bia đá phụng thờ. Khảo cứu Hán - Nôm còn chỉ ra mặt thứ nhất của tấm bia thậm chí đã được khắc trước đó từ khoảng năm 1633.
.jpg)


Ông Lê Đăng Thành thông tin thêm: Qua ghi chép trong thần phả của làng, lịch sử đình Tàm Xá vốn gắn liền với những cuộc đối đầu thiên tai dữ dội và nhiều lần dịch chuyển dọc bờ bãi sông Hồng. Vào năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), ngôi đình từng được cha ông dốc lực xây dựng lại khang trang bằng gạch ngói cho bền vững. Đến năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), dân làng lại tiếp tục chung tay dựng lại một ngôi đình gỗ bề thế hơn để làm nơi phụng thờ trang nghiêm.
Tuy nhiên, các trận lũ lớn liên tiếp xảy ra sau đó đã nhấn chìm toàn bộ đình cổ, gây sạt lở nghiêm trọng bờ bãi. Trong hoàn cảnh kiệt quệ, dân làng buộc phải dỡ đình đắp đập chặn lũ, thậm chí phải bán đi phần Tiền tế để lấy tiền cứu đói. Khi ấy, tượng Phật và các đồ tế tự phải đem gửi nhờ sang làng bên cạnh, còn người dân cùng nhau lên đê lánh nạn.

Qua khảo cứu tư liệu, ông Thành cho biết các cụ cao niên thời bấy giờ đã xin đất của xã Chiêm Trạch lân cận để di dời toàn bộ cụm đình, chùa về khu vực an toàn hơn. Khi bãi bồi nổi trở lại, người dân quay về dựng tạm ngôi đình bằng tre, giai đoạn 1890-1900 tiếp tục chung sức quyên góp dựng lại ngôi đình gỗ kiên cố tại Bãi Giữa. Đến năm 1974, thực hiện chính sách di dân trị thủy, ngôi đình Bãi Giữa một lần nữa bị tháo dỡ mang vật liệu vào đất liền; trải qua quãng trầm lặng gián đoạn gần hai thập kỷ trước khi được phục dựng và Nhà nước xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1992.
.jpg)
Di sản cốt lõi tại di tích là bộ sưu tập 72 đạo sắc phong cổ trải dài qua ba triều đại phong kiến Lê, Tây Sơn và Nguyễn. Đây là kho tàng tư liệu thành văn quý hiếm với nhiều đạo sắc có niên đại từ thế kỷ XVII dưới thời vua Lê Thần Tông, kéo dài liên tục cho đến triều Nguyễn và kết thúc ở thời vua Khải Định (1924). Bộ sắc phong ghi nhận công trạng, ban cấp mỹ tự cho các vị Thành hoàng và là nguồn sử liệu pháp lý khẳng định tiến trình lịch sử lâu đời của cộng đồng cư dân Tàm Xá.
Trải qua nhiều biến động, 72 đạo sắc phong cùng hệ thống văn bản cổ tại đình từng có nguy cơ hư hại, thất lạc. Trong quá trình khảo sát thực địa, chuyên gia Nguyễn Doãn Tuân (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) đã trực tiếp kiểm kê, lập hồ sơ khoa học và dịch nghĩa toàn bộ kho tàng di văn quý giá này. Chính nhờ những kết quả thẩm định chuyên môn kết hợp với cứ liệu văn bia cổ, cụm di tích đình - chùa Tàm Xá đã được Bộ Văn hóa - Thông tin chính thức xếp hạng là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1992. Từ nguồn dữ liệu nghiên cứu và dịch thuật bài bản đó, địa phương đã tiến hành số hóa hệ thống tư liệu gồm 72 đạo sắc phong, 96 câu đối và các bức hoành phi cổ giúp bảo tồn và lưu lại cho các thế hệ sau.

Đây cũng chính là nền tảng tinh thần vững chắc để nhân dân vùng bãi bồi bước vào giai đoạn phục dựng lại tầm vóc của ngôi đình làng cổ. Bước sang giai đoạn 2024-2025, dự án đại trùng tu đình Tàm Xá chính thức được triển khai với quy mô lớn, tổng kinh phí đầu tư lên tới hơn 29 tỷ đồng. Công trình vốn dự kiến kéo dài 3 năm đã hoàn thành thần tốc chỉ trong vòng 1 năm nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa nguồn vốn Nhà nước và 30% quỹ đối ứng xã hội hóa do chính người dân địa phương tự nguyện đóng góp.
Có những gia đình công đức hàng trăm triệu đồng, nhiều hộ dân khác chắt chiu ủng hộ từ vài triệu đến hàng chục triệu. Ngay sau khi khánh thành, Đại lễ rước Thánh từ đình cũ về đình mới được tổ chức quy mô sau hơn 50 năm gián đoạn (kể từ năm 1974), quy tụ đoàn rước hơn 1.000 người tham gia, rước trọn vẹn long ngai, bài vị mừng hội làng.
Sức sống văn hóa ấy tiếp tục được phát huy trong kỳ Lễ hội truyền thống đình Tàm Xá năm 2026 (khai mạc ngày 28-4-2026, tức ngày 12-3 âm lịch). Tiếng trống khai hội vang lên cùng các nghi thức dâng hương, trao giấy ghi nhận công đức cho các tập thể, cá nhân không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân mà còn giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, thắt chặt khối đại đoàn kết toàn dân.

.jpg)

.jpg)
.jpg)
.jpeg)
Nhấn mạnh về giá trị của di tích, Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Thanh Trần Đình Ngọc khẳng định: Lễ hội truyền thống đình Tàm Xá được tổ chức hằng năm là dịp để người dân tưởng nhớ công lao của các bậc tiền nhân, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Sự kiện không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người dân mà còn góp phần giáo dục truyền thống, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
Nhìn từ câu chuyện đình Tàm Xá hôm nay, có thể thấy sự gặp gỡ sâu sắc với định hướng phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Luật Di sản văn hóa cùng Chương trình hành động số 08-CTr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW. Các văn bản chiến lược này đều nhấn mạnh yêu cầu phát huy vai trò chủ thể của người dân, đưa nhân dân trở thành trung tâm sáng tạo, gìn giữ và thụ hưởng di sản.
Khi 72 đạo sắc phong hay tấm bia đá cổ được dịch nghĩa, chuyển hóa thành tri thức cộng đồng; khi chính quyền địa phương đồng hành cùng nhân dân tự nguyện đóng góp công sức và hào hứng tham gia ngày hội làng, mạch ngầm văn hóa đình Tàm Xá tiếp tục dòng chảy bền bỉ, trở thành nguồn lực nội sinh, giúp gắn kết cộng đồng, xây dựng quê hương, đóng góp vào sự phát triển bền vững của Thủ đô trong nhịp sống mới.
Thảo Hương


