Từ những người du canh, du cư, sống lưng chừng núi Ba Vì, đồng bào người Dao đã có cuộc “hạ sơn” lịch sử để ổn định cuộc sống, xây dựng bản làng. Gần 60 năm qua, nghề thuốc Nam truyền thống của người dân nơi đây không chỉ được gìn giữ như một phần hồn cốt văn hóa dân tộc mà còn trở thành sinh kế quan trọng, giúp nhiều hộ gia đình vươn lên khá giả. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, nghề thuốc Nam của người Dao ở Ba Vì đang đứng trước nhiều thách thức về bảo tồn giá trị truyền thống và phát triển bền vững.

Mang rừng thuốc xuống núi
Trước khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (tháng 7-2025), xã Ba Vì (thuộc huyện Ba Vì cũ) có 3 thôn: Yên Sơn, Hợp Sơn và Hợp Nhất. Điều đặc biệt là cả 3 thôn đều được UBND thành phố Hà Nội công nhận là làng nghề truyền thống thuốc Nam của người Dao. Xã Ba Vì mới được thành lập với sự sáp nhập của nhiều xã cũ như: Ba Trại, Khánh Thượng… nhưng nghề thuốc Nam vẫn tập trung tại 3 thôn đó. Ít ai biết rằng, gần 60 năm trước, những bản làng này vẫn còn nằm cheo leo ở độ cao từ 700-800m trên dãy núi Ba Vì. Khi ấy, hàng chục hộ đồng bào Dao sinh sống theo hình thức du canh, du cư, phát nương làm rẫy giữa rừng già. Bản làng mang tên Che Tai, tách biệt với thế giới bên ngoài. Thời điểm đó, nghe theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước, người Dao trên núi Ba Vì đã đồng lòng thực hiện cuộc “cách mạng hạ sơn”. Từ bỏ cuộc sống du cư gắn với rừng sâu, họ xuống chân núi định cư, chuyển sang trồng trọt, chăn nuôi và xây dựng cuộc sống mới.
“Hạ sơn có nghĩa là tách mình ra khỏi rừng”, nhiều người cao tuổi ở Yên Sơn vẫn nhắc lại như một dấu mốc thay đổi vận mệnh của cộng đồng người Dao nơi đây. Dù xuống núi, người Dao vẫn mang theo vốn tri thức quý giá tích lũy qua nhiều thế hệ về cây thuốc và cách chữa bệnh bằng thảo dược. Chính kho tàng tri thức ấy đã tạo nên nghề thuốc Nam nổi tiếng của đồng bào Dao Ba Vì ngày nay.
Nằm trên con dốc cao, giáp khu vực COS100 của Vườn Quốc gia Ba Vì, gia đình ông Dương Kim Liên và bà Phùng Thị Bình vẫn ngày ngày gắn bó với nghề trồng, chế biến thuốc Nam. Dẫn chúng tôi len lỏi qua khu vườn thuốc rộng hàng nghìn mét vuông, bà Bình say sưa giới thiệu từng loại cây như giới thiệu những người bạn thân thuộc. Chỉ tay vào một khóm cây xanh tốt, bà nói: Cây mía dò này dùng chữa sỏi thận, sỏi mật, sỏi bàng quang. Cây được băm nhỏ, phơi khô rồi sắc nước uống hằng ngày. Đi thêm vài bước, bà lại giới thiệu cây chó đẻ hoa vàng, cây thài lài tía dùng trong bài thuốc hỗ trợ động thai; cây an xoa chữa bệnh gan; cây gối hạc điều trị các bệnh xương khớp như thấp khớp, gút… Có những cây thuốc bà Bình chỉ gọi được bằng tiếng Dao. “Đây là cây canh pẹ, dùng chữa xơ gan cổ chướng. Còn cây đèm tòm bèm chữa sỏi thận. Tiếng phổ thông tôi không biết gọi là gì”, bà Bình cười hiền.
Càng đi sâu vào khu vườn, không gian càng giống một khu rừng thu nhỏ với tầng tầng lớp lớp cây thuốc đan xen nhau. Một dây leo xanh mướt được bà Bình nâng niu giới thiệu là cây thìa canh - vị thuốc quen thuộc hỗ trợ điều trị tiểu đường. Cách đó không xa là cây bưởi bung chữa thoái hóa cột sống, cây xạ đen dùng nấu cao kết hợp với trinh nữ hoàng cung, bán chi liên, bạch hoa xà trong một số bài thuốc hỗ trợ điều trị bệnh hiểm nghèo. Nhiều loại cây thuốc quý đang được gia đình lưu giữ như một ngân hàng giống sống. Dù sản lượng không lớn do điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng không phù hợp như trên núi cao nhưng đây là nguồn gen quý được bảo tồn để tránh nguy cơ mai một.
Những ngày nắng đẹp là thời điểm người Dao tập trung thu hái dược liệu. Ngoài sân nhà bà Bình, từng mẻ thuốc được thái nhỏ, trải đều trên nền bê tông láng sạch. “Hôm nay tôi phơi cây rù rì chữa đau thần kinh tọa, cây đơn đỏ chữa ngứa. Các loại lá, thân, rễ được phân loại riêng để bảo đảm chất lượng khi phơi khô”, bà Bình giới thiệu khi tiếp tục công đoạn chế biến sau khi trở về từ vườn thuốc. Hôm chúng tôi đến, bà đang hoàn thiện một bài thuốc hỗ trợ điều trị dạ dày gồm lá khôi, chè dây, nghệ, củ dòm cùng nhiều thành phần gia truyền khác. Sau khi phối trộn theo tỷ lệ bí truyền, các vị thuốc được nghiền thành bột, đóng vào túi lọc để người dùng pha như trà.
Theo bà Bình, mỗi bài thuốc có công thức riêng. Có bài chỉ sử dụng khoảng 10 vị thuốc nhưng cũng có bài lên tới hơn 20 vị. Không chỉ sản xuất dưới dạng bốc theo thang, sắc nước uống, một số sản phẩm còn làm dưới dạng túi lọc, nấu thành cao hoặc bột mịn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường. Những năm gần đây, để nâng cao kiến thức chuyên môn, nhiều người Dao đã tham gia các lớp đào tạo y học cổ truyền. Bản thân ông Dương Kim Liên cũng đã hoàn thành chương trình trung cấp y học cổ truyền.
Nghề thuốc không chỉ giúp lưu giữ tri thức dân gian mà còn tạo sinh kế quan trọng cho người dân địa phương. Từ chỗ thiếu ăn, thiếu mặc, nhiều gia đình người Dao đã xây được nhà cửa khang trang, cho con cái học hành đến nơi đến chốn nhờ nghề thuốc Nam. Xã Ba Vì trước khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới và không còn hộ nghèo.
Để làng nghề phát triển bền vững
Dù mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân, song nghề thuốc Nam Ba Vì vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn. Ông Lý Sinh Tuất, Chủ tịch Hội Đông y xã Ba Vì, đồng thời là cán bộ đang công tác tại Trạm y tế xã cho biết, hiện nay, Hội Đông y xã có khoảng 150 hội viên, trong đó thôn Yên Sơn có 73 hội viên; thôn Hợp Nhất 36 hội viên; thôn Hợp Sơn hơn 40 hội viên. Tuy nhiên, số hộ được cấp chứng chỉ hành nghề chính thức chỉ hơn 10 người. “Đây là những người đã qua đào tạo và được Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề. Còn lại chủ yếu là các hộ làm nghề truyền thống, thu hái, sơ chế và cung cấp dược liệu thô”, ông Lý Sinh Tuất cho biết.
Cũng theo ông Lý Sinh Tuất, nghề thuốc Nam đã góp phần quan trọng nâng cao đời sống người dân địa phương. Tuy nhiên, thu nhập giữa các hộ có sự chênh lệch lớn. Trong thôn Yên Sơn hiện có khoảng 5 hộ đạt doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm từ nghề thuốc Nam. Trong khi đó, nhiều hộ khác chỉ có thu nhập vài chục triệu đồng mỗi năm, chủ yếu làm công đoạn cung ứng nguyên liệu hoặc làm thuê cho các cơ sở lớn.
Ngoài ra, một trong những vấn đề khiến những người làm nghề trăn trở là tình trạng quảng cáo quá mức công dụng của các sản phẩm thuốc Nam trên mạng xã hội. “Mạng xã hội rất khó kiểm soát. Có những nơi quảng cáo thổi phồng công dụng sản phẩm. Thuốc Nam của người Dao có giá trị thực tiễn đã được kiểm chứng qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, việc quảng cáo thiếu kiểm soát của một số đơn vị trung gian có thể ảnh hưởng tới uy tín chung của cả làng nghề”, ông Lý Sinh Tuất chia sẻ.
Khó khăn lớn hơn nằm ở câu chuyện pháp lý và sở hữu trí tuệ. Nhiều gia đình người Dao đang nắm giữ những bài thuốc gia truyền quý giá nhưng chưa có cơ chế phù hợp để đăng ký bảo hộ. “Có những bài thuốc rất hiệu quả nhưng không có căn cứ pháp lý để chứng minh, không đủ điều kiện hoàn thiện hồ sơ công nhận sản phẩm theo quy định hiện hành”, ông Lý Sinh Tuất cho biết.
Trong khi đó, theo quy định hiện nay, nhiều sản phẩm thuốc Nam không thể đăng ký dưới dạng thuốc mà chỉ được công nhận là thực phẩm bảo vệ sức khỏe hoặc sản phẩm hỗ trợ. Điều này khiến giá trị và bản sắc của các bài thuốc truyền thống chưa được phát huy tương xứng. Hơn nữa, để một sản phẩm dược liệu được chứng nhận hợp quy, các cơ sở phải đáp ứng nhiều điều kiện khắt khe về vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, quy trình sản xuất và kiểm nghiệm chất lượng. Đây là rào cản không nhỏ đối với các hộ sản xuất quy mô gia đình. Bên cạnh đó, khai thác nguồn nguyên liệu cũng là bài toán nan giải. Trước đây, nhiều cây thuốc quý được khai thác trên vùng núi cao Ba Vì. Hiện nay, khu vực từ COS100 trở lên thuộc phạm vi quản lý của Vườn Quốc gia Ba Vì nên người dân không được phép khai thác. Trong khi đó, nhiều loài dược liệu quý lại chỉ thích hợp sinh trưởng ở độ cao lớn. Khi đưa xuống vùng thấp trồng, năng suất và chất lượng đều không đạt yêu cầu.
Không chỉ là sinh kế, nghề thuốc Nam còn gắn liền với văn hóa truyền thống của người Dao Ba Vì. Nhiều bài thuốc gia truyền được xem là tài sản quý giá của từng dòng họ. Việc truyền nghề thường gắn với các nghi lễ truyền thống và những quy định riêng của cộng đồng. “Có gia đình sẵn sàng chia sẻ bài thuốc, nhưng cũng có gia đình không truyền ra ngoài. Muốn tiếp nhận bài thuốc phải làm lễ, thực hiện nghi thức truyền nghề theo phong tục người Dao”, ông Tuất cho biết. Chính yếu tố văn hóa đặc thù này khiến việc tập hợp, chuẩn hóa và phát triển các bài thuốc gia truyền gặp nhiều khó khăn.
Để nghề thuốc Nam phát triển bền vững, ông Lý Sinh Tuất đề xuất những chính sách riêng cho cộng đồng người Dao Ba Vì như: Hỗ trợ đăng ký sở hữu trí tuệ cho các bài thuốc gia truyền; xây dựng cơ chế bảo tồn và khai thác tri thức bản địa một cách bài bản; các chương trình đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề cũng cần được mở rộng để người dân nâng cao kiến thức y học cổ truyền, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội… “Chúng tôi rất cần sự đồng hành của các cấp, ngành trong việc tháo gỡ những nút thắt về cơ chế, chính sách, giúp nghề thuốc Nam Ba Vì vừa giữ được bản sắc văn hóa, vừa trở thành động lực phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng”, ông Lý Sinh Tuất nêu.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.