Dù là cường quốc xuất khẩu nông sản, Việt Nam vẫn đang loay hoay trong vòng xoáy “được mùa mất giá” và biên lợi nhuận thấp do phụ thuộc vào xuất khẩu thô. Do đó, chế biến sâu được xem là giải pháp sống còn đối với nông sản Việt.
Dư địa còn bỏ ngỏ

Hiện nay, phần lớn sản phẩm nông sản xuất khẩu của Việt Nam vẫn ở dạng thô, điều này khiến giá trị gia tăng bị hạn chế so với các quốc gia khác. Cùng với đó, mức tổn thất sau thu hoạch đối với nhiều mặt hàng chủ lực như lúa gạo, thủy sản, trái cây… còn rất lớn.
Đơn cử như tỉnh Đắk Lắk, thủ phủ của các loại nông sản xuất khẩu giá trị cao. Hiện, toàn tỉnh có trên 217.000 ha cà phê, với sản lượng đạt hơn 580.000 tấn/năm; gần 29.000 ha hồ tiêu, sản lượng trên 82.000 tấn/năm; 76.000 ha cây ăn quả, chiếm gần 21% tổng diện tích cây lâu năm.
Theo Sở Công Thương tỉnh Đắk Lắk, mức độ chế biến sâu của tỉnh dù cao hơn bình quân chung cả nước nhưng hiện cũng chỉ đạt từ 10 - 20%, trong khi tỷ lệ xuất khẩu ở dạng thô chiếm tới khoảng 80%. Việc phụ thuộc quá lớn vào việc bán sản phẩm tươi, thô khiến toàn bộ chuỗi cung ứng dễ bị tổn thương trước các rào cản kỹ thuật và biến động của thị trường quốc tế.
Tại Hà Nội, các mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao như thực phẩm chế biến, sản phẩm OCOP, thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu nông nghiệp đang chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, cho thấy hướng đi đúng trong tái cơ cấu ngành. Tuy nhiên, tỷ lệ nông sản chế biến sâu của thành phố mới đạt khoảng 30%, phần lớn vẫn tiêu thụ dưới dạng tươi sống hoặc sơ chế.
Vì vậy, thành phố khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu với công nghệ hiện đại như sấy, đông lạnh, đóng gói thông minh, chế biến thực phẩm tiện lợi…; đồng thời phát triển các trung tâm logistics nông sản, hệ thống kho lạnh để giảm tổn thất sau thu hoạch.
Giới chuyên gia nhận định, diện tích sản xuất nông nghiệp không tăngnên cần nâng cao năng suất, chất lượng và xây dựng vùng nguyên liệu gắn với chế biến sâu để nâng cao giá trị gia tăng. Chế biến sâu không chỉ nâng cao năng suất mà còn là cách để khai thác tối đa dư địa thực hiện được mục tiêu xuất khẩu cho giai đoạn 2026 – 2030.
Do đó, Việt Nam cần “đi tắt đón đầu”, đầu tư công nghệ chế biến ngang tầm khu vực và quốc tế, kết hợp với các vùng nguyên liệu đã được quy hoạch. Từ quy trình đến thiết bị, tất cả phải hướng tới giá trị cao hơn, giảm được 10% tổn thất sau thu hoạch là đã thu về giá trị khổng lồ.
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh chế biến sâu không chỉ giúp tăng giá trị xuất khẩu mà còn góp phần mở rộng thị trường, giảm phụ thuộc vào xuất khẩu thô và nâng cao khả năng thích ứng trước biến động của thị trường toàn cầu.
Cần một hệ sinh thái đồng bộ để bứt phá
Thực tế cho thấy, việc xuất khẩu nguyên liệu thô khiến giá trị gia tăng thấp và doanh nghiệp khó xây dựng thương hiệu dài hạn. Ngược lại, thông qua chế biến sâu, cùng một loại nông sản có thể phát triển thành nhiều dòng sản phẩm khác nhau, giúp mở rộng thị trường và nâng cao biên lợi nhuận.

Từ thực tiễn sản xuất kinh doanh, Tổng giám đốc Tập đoàn Nafoods Group Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ: Chế biến sâu là giải pháp chiến lược giúp nông sản Việt vượt qua hai giới hạn lớn nhất là khoảng cách địa lý và thời gian.
Công nghệ chế biến hiện đại không chỉ kéo dài vòng đời sản phẩm, giảm áp lực logistics mà còn đưa nông sản vươn xa tới các thị trường cao cấp dưới những hình thái có giá trị kinh tế vượt trội. Mặt khác, chế biến sâu đóng vai trò như một “bộ giảm xốc” bảo vệ nông dân trước những rủi ro thị trường và biến đổi khí hậu.
TS Đặng Kim Sơn, Nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn nhấn mạnh: Việc tăng cường liên kết chuỗi giá trị và gắn kết sản xuất với chế biến, tiêu thụ là yếu tố sống còn của nông nghiệp hiện đại.
Để chế biến sâu không chỉ là những mô hình đơn lẻ mà trở thành động lực tăng trưởng mới, ông cho rằng cần xây dựng một hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa “ba nhà”. Trong đó Nhà nước sẽ đóng vai trò kiến tạo bằng những chính sách tháo gỡ nút thắt về đất đai và hạ tầng; đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng logistics và tạo cơ chế thông thoáng cho tín dụng xanh để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư công nghệ.
Các doanh nghiệp cần đóng vai trò trung tâm trong việc đổi mới công nghệ và đầu tư vào các trung tâm sản xuất quy mô lớn đạt chuẩn quốc tế. Việc chuyển dịch sang mô hình nông nghiệp tuần hoàn, tận dụng tối đa phụ phẩm sẽ giúp tối ưu hóa quy trình và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Cùng đó, các nhà khoa học đóng vai trò đồng hành, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, ứng dụng công nghệ số và blockchain để minh bạch hóa thông tin, giúp nông sản đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe nhất của thế giới.
Chế biến sâu chính là chìa khóa để định hình lại vị thế của nông nghiệp Việt Nam. Khi mỗi hạt tiêu, hạt cà phê không còn là nguyên liệu thô mà là một sản phẩm tinh hoa, đó cũng là lúc sinh kế của người nông dân được đảm bảo bền vững và thương hiệu quốc gia được khẳng định vững chắc.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.