Những số liệu dân số mới nhất được công bố trong nửa đầu năm 2026 tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo tại châu Á, đặc biệt là Đông Á, nơi tập trung các nền kinh tế hàng đầu khu vực vốn được hưởng lợi từ “cơ cấu dân số vàng” nay đang đối mặt với thực tế trái ngược: Tỉ lệ sinh duy trì ở mức thấp, dân số già hóa nhanh, lực lượng lao động thu hẹp và nhu cầu tiếp nhận lao động nhập cư ngày càng gia tăng.

Những tín hiệu đáng lo tiếp tục xuất hiện
Năm 2026 tiếp tục chứng kiến hàng loạt báo cáo mới về dân số cho thấy xu hướng suy giảm nhân khẩu học vẫn chưa thể đảo ngược tại Đông Á. Đầu tuần này, Chính phủ Nhật Bản cho biết, tổng tỉ suất sinh - tức số con trung bình mà một phụ nữ được kỳ vọng sinh trong suốt cuộc đời - đã giảm 0,01 điểm so với năm trước, xuống còn 1,14 con/phụ nữ. Đây là năm thứ 10 liên tiếp chỉ số này đi xuống, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae cảnh báo đây là "một tình trạng khẩn cấp thầm lặng và là một vấn đề quan trọng".
Trước đó, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản công bố số trẻ sinh trong năm 2025 chỉ đạt 705.809 trẻ, giảm 2,1% so với năm trước và là mức thấp nhất kể từ khi quốc gia này bắt đầu thống kê vào năm 1899. Đây cũng là năm thứ 10 liên tiếp số ca sinh giảm tại Nhật Bản. Đầu thập niên 2010, Tokyo từng dự kiến số trẻ sinh hằng năm chỉ giảm xuống dưới ngưỡng 710.000 vào khoảng năm 2040, nhưng giờ đây quá trình suy giảm diễn ra nhanh hơn đáng kể.
Trong khi đó, khoảng cách giữa số người qua đời và số trẻ sinh ra ngày càng lớn, khiến dân số Nhật Bản thu hẹp. Đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều địa phương, nhất là nông thôn, đối mặt với tình trạng thiếu lao động nghiêm trọng, trường học phải đóng cửa và nhiều cộng đồng dân cư đứng trước nguy cơ biến mất.
Tại Hàn Quốc, bức tranh có phần tích cực hơn nhưng chưa đủ để thay đổi xu hướng dài hạn. Theo số liệu được công bố vào tháng 2-2026, số trẻ sinh năm 2025 chỉ đạt khoảng 254.500 trẻ, tăng 6,8% so với năm trước. Tỉ suất sinh cũng tăng từ 0,75 lên 0,80 con/phụ nữ. Tỉ lệ sinh của Hàn Quốc trong quý I-2026 đã tăng với tốc độ nhanh nhất kể từ khi nước này bắt đầu thống kê, khi số trẻ em chào đời tăng gần 15% so với cùng kỳ năm trước.
Nhiều chuyên gia nhận định, sự gia tăng này chủ yếu phản ánh tác động của nhóm dân số sinh vào đầu thập niên 1990 đang bước vào độ tuổi lập gia đình và sinh con, thay vì sự thay đổi căn bản trong hành vi xã hội. Áp lực chi phí nhà ở, giáo dục, việc làm và văn hóa làm việc cường độ cao vẫn đè nặng lên các cặp vợ chồng trẻ. Mức 0,80 con/phụ nữ vẫn là tỉ suất sinh thấp nhất trong nhóm các nước phát triển. Để duy trì quy mô dân số ổn định, một quốc gia cần đạt mức sinh khoảng 2,1 con/phụ nữ.
Nếu Nhật Bản và Hàn Quốc là những quốc gia già hóa sớm nhất Đông Á thì Trung Quốc đang nổi lên như trường hợp đáng lo ngại nhất về quy mô. Kết quả khảo sát dân số Trung Quốc cuối tháng 5 cho thấy, tính đến tháng 11-2025, nhóm dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm 15,87% trong tổng dân số khoảng 1,4 tỷ người. Nhóm 0-14 tuổi chiếm tỉ lệ 15,25%. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc ghi nhận tình trạng nhóm cao tuổi đông hơn nhóm trẻ em kể từ năm 1949, thời điểm nước này bắt đầu lưu trữ số liệu thống kê dân số.
Dân số của nền kinh tế số 1 châu Á đã giảm năm thứ tư liên tiếp, với số trẻ sinh năm 2025 chỉ còn khoảng 7,92 triệu, giảm 17% so với năm trước. Tỉ lệ sinh giảm xuống còn 5,63 trẻ trên mỗi 1.000 dân, mức thấp nhất kể từ khi nước này thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Điều đáng chú ý là xu hướng giảm sinh vẫn tiếp diễn dù Bắc Kinh đã bãi bỏ chính sách một con từ nhiều năm trước, cho phép sinh hai con rồi ba con, đồng thời triển khai hàng loạt biện pháp hỗ trợ tài chính.
Tình hình tương tự cũng được ghi nhận tại các trung tâm kinh tế khác trong khu vực như Singapore, Đài Loan (Trung Quốc) hay Hong Kong (Trung Quốc). Tổng tỉ suất sinh của công dân và thường trú nhân Singapore đã giảm xuống mức thấp kỷ lục 0,87 con/phụ nữ trong năm 2025, bất chấp thời gian qua nước này đã triển khai hàng loạt chính sách nhằm ngăn chặn đà suy giảm tỉ lệ sinh, bao gồm các khoản thưởng tiền mặt cho trẻ sơ sinh, mở rộng chế độ nghỉ thai sản và nghỉ chăm con dành cho người cha, cũng như nới lỏng quy định về trữ đông trứng.
Nỗ lực thoát quỹ đạo khủng hoảng
Sự suy giảm dân số kéo theo hệ quả ngày càng rõ nét đối với thị trường lao động. Tại Nhật Bản, tỉ lệ vị trí tuyển dụng trên số người tìm việc tiếp tục ở mức cao trong nhiều ngành nghề. Các lĩnh vực xây dựng, logistics, dịch vụ lưu trú, nông nghiệp và chăm sóc người cao tuổi đều đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực kéo dài. Hàn Quốc và Singapore cũng ghi nhận xu hướng tương tự. Các doanh nghiệp ngày càng gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động trẻ, đặc biệt là các vị trí đòi hỏi kỹ năng trung bình hoặc công việc nặng nhọc.
Trước áp lực ngày càng gia tăng, các chính phủ đang triển khai đồng thời nhiều giải pháp. Singapore vừa thành lập một nhóm công tác cấp bộ trưởng để giải quyết điều mà nước này gọi là “thách thức mang tính sống còn” đối với tương lai dân số quốc gia. Đồng thời, chính quyền cũng công bố các sáng kiến hỗ trợ hôn nhân và sinh con trị giá gần 7 tỷ đô la Singapore (khoảng 5,4 tỷ USD). Phát biểu ngày 9-6, Thủ tướng Lawrence Wong nêu rõ, đảo quốc sư tử sẽ tập trung vào việc cải thiện chất lượng cuộc sống của các gia đình thay vì quá phụ thuộc vào các biện pháp khuyến khích sinh con. Đây là lựa chọn hợp lý, trong bối cảnh nhiều quốc gia khu vực đang chứng kiến thực trạng chi phí nuôi dạy con đắt đỏ, áp lực cuộc sống khiến tỉ lệ kết hôn giảm mạnh và sự thay đổi trong quan niệm sống của giới trẻ khiến các chính sách khuyến sinh chưa mang lại hiệu quả.
Trong khi đó, Hàn Quốc vẫn là quốc gia đầu tư mạnh nhất cho các chương trình hỗ trợ sinh con. Bên cạnh thúc đẩy các biện pháp cải thiện môi trường làm việc nhằm giúp người lao động cân bằng giữa công việc và gia đình, Seoul trong hơn 2 thập kỷ qua đã chi hàng trăm tỷ USD cho các chính sách trợ cấp trẻ em, hỗ trợ nhà ở cho các cặp vợ chồng trẻ, mở rộng hệ thống nhà trẻ công lập và kéo dài thời gian nghỉ thai sản. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu gần đây cho rằng ngay cả khi các biện pháp khuyến sinh phát huy tác dụng, phải mất nhiều năm mới có thể tạo ra sự thay đổi đáng kể đối với quy mô lực lượng lao động.
Trong ngắn hạn, tự động hóa là giải pháp khả thi nhất. Thực tế, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc... đều đang chạy đua phát triển robot công nghiệp - đặc biệt là robot hình người. Từ các nhà máy sản xuất ô tô đến các cơ sở chăm sóc người cao tuổi, robot và trí tuệ nhân tạo đang được triển khai ngày càng rộng rãi nhằm giảm phụ thuộc vào lao động con người. Bắc Kinh coi phát triển robot hình người, trí tuệ nhân tạo và sản xuất thông minh là một phần trong chiến lược ứng phó với tình trạng thiếu hụt lao động trong tương lai.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng công nghệ chỉ có thể bù đắp một phần, do đó nhập cư được xem là giải pháp khó tránh khỏi. Trước đây, các quốc gia Đông Á thường duy trì chính sách nhập cư tương đối thận trọng nhằm bảo đảm tính đồng nhất văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, áp lực nhân khẩu học đang buộc nhiều chính phủ phải điều chỉnh cách tiếp cận. Giới nghiên cứu cho rằng Nhật Bản, Hàn Quốc và thậm chí cả Trung Quốc có thể phải tiếp nhận nhiều lao động nước ngoài hơn trong những năm tới nếu muốn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay. Xu hướng này dĩ nhiên sẽ đi kèm những thách thức mới liên quan đến hòa nhập xã hội, giáo dục, nhà ở và bảo đảm cơ hội bình đẳng cho người lao động nước ngoài.
Nhìn về dài hạn, nhiều quốc gia châu Á đang bước vào một cuộc chuyển đổi nhân khẩu học mang tính lịch sử, trong đó già hóa dân số có nguy cơ trở thành lực cản đối với tăng trưởng. Vì vậy, thách thức lớn nhất hiện nay không còn là làm thế nào để tránh già hóa dân số, mà là làm thế nào để thích nghi với một xã hội già hóa nhưng vẫn duy trì được năng lực cạnh tranh, tăng trưởng kinh tế và chất lượng cuộc sống cho người dân. Đó sẽ là bài toán chiến lược định hình tương lai của cả khu vực trong nhiều thập niên tới.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.