Áp lực lên hệ thống ngân hàng đang rất lớn khi phải gánh trọng trách cung ứng vốn vượt quá khả năng thực tế. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, nếu chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng, sẽ tiếp tục gây sức ép lên thanh khoản cho toàn hệ thống…
Tại cuộc họp giao ban của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng với cộng đồng doanh nghiệp ngày 26-7-2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ẩn đã thừa nhận áp lực rất lớn lên hệ thống ngân hàng khi phải gánh trọng trách cung ứng vốn vượt quá khả năng thực tế.
Vấn đề đặt ra, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, nếu chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng sẽ tiếp tục gây sức ép lên thanh khoản cho toàn hệ thống, do đó, cần nhanh chóng đa dạng hóa các kênh huy động vốn cho nền kinh tế.

Tỷ lệ tín dụng/GDP đã quá cao
Thông lệ quốc tế không có quy định trần tối đa về tỷ lệ dư nợ tín dụng trên Tổng sản phẩm trong nước (GDP). Tuy vậy, Ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) sử dụng độ lệch theo thời gian của chỉ tiêu tín dụng/GDP để cảnh báo sớm về khả năng mất an toàn của hệ thống ngân hàng từng quốc gia. Nhiều Ngân hàng trung ương (Ngân hàng Nhà nước) cũng sử dụng tỷ lệ tín dụng/GDP để điều chỉnh định hướng tăng trưởng tín dụng nhằm kiểm soát rủi ro bên cạnh các tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn Basel (Bộ quy chuẩn quốc tế về quản lý rủi ro và an toàn vốn cho ngân hàng). Thực tế, khi tỷ lệ tín dụng/GDP quá cao sẽ làm gia tăng rủi ro cho hệ thống ngân hàng, nguy cơ ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô.
Với ngân hàng, tăng áp lực thanh khoản, tích lũy nợ xấu, bào mòn tỷ lệ an toàn vốn (CAR) dẫn đến mất an toàn hệ thống. Với kinh tế vĩ mô, sẽ kích hoạt lạm phát và tỷ giá tăng, giảm hiệu suất đầu tư do lạm dụng đòn bẩy tín dụng, dựng rào cản quá trình nâng hạng định mức tín nhiệm quốc gia.
Theo Ngân hàng Nhà nước, tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2025 là 19,01%, tổng dư nợ nền kinh tế thời điểm cuối năm là 18,58 triệu tỷ đồng, và theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), GDP năm 2025 tăng 8,02%, đạt giá trị 12.847 nghìn tỷ đồng. Các số liệu này tính ra tỷ lệ tín dụng/GDP cuối năm 2025 lên mức 144,6%. So mức bình quân là 52% của nhóm 8 quốc gia cùng hạng BB thì tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam gấp 2,78 lần. Với vai trò của mình, hệ thống ngân hàng phải gánh vác nhiệm vụ đáp ứng vốn hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, thực hiện mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt ra. Tuy vậy, đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề, áp lực lớn cho hệ thống ngân hàng.
Nguy cơ rủi ro thanh khoản
Tính toán theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi liên tục tăng, từ 95,2% cuối năm 2024, lên 112,6% cuối năm 2025, và lên mức 117,6% cuối tháng 7-2026. Đây là con số đáng để ý ở góc độ quản trị rủi ro thanh khoản.
Đáng chú ý, thời gian qua, nhiều ngân hàng thương mại có tốc độ tăng tín dụng nhanh hơn tốc độ huy động tiền gửi, nên thiếu hụt thanh khoản diễn ra cục bộ, đặc biệt đối với khối ngân hàng cổ phần tư nhân. Trước tình hình này, Ngân hàng Nhà nước kịp thời thông qua sử dụng linh hoạt công cụ thị trường mở (OMO) để can thiệp nhằm ổn định thanh khoản cho hệ thống. Tuy nhiên, sự ổn định thanh khoản đó cũng chỉ là tạm thời. Phần lớn các ngân hàng hụt thanh khoản đang nhìn nhiều vào hỗ trợ nguồn vốn của thị trường liên ngân hàng, xem đây như một “cứu cánh” cho cải thiện khả năng thanh khoản.
Do nhu cầu cao trong vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng nên lãi suất trên thị trường liên ngân hàng luôn bị đe dọa đẩy lên cao. Ghi nhận số liệu phản ánh của cơ quan quản lý từ đầu năm 2025 đến nay cho thấy, lãi suất liên ngân hàng tuy biến động khác nhau giữa các phiên khác nhau, nhưng nhìn chung có mặt bằng cao. Chẳng hạn, lãi suất cho vay qua đêm đạt đỉnh vào đầu năm 2026, dao động từ 5% đến 17,2%; hạ đáy cuối tháng 7-2026, dao động mức từ 0,5% đến 1,2%; nhưng phiên giao dịch ngày 10-8 lại quay đầu lên mức từ 6,2% đến 6,4%. Trong khi lãi suất kỳ hạn 1 tháng đạt đỉnh vào đầu năm 2026 là 8,2%, hạ xuống mức 6,9% cuối tháng 7-2026, nhưng vẫn neo mức 6,9% vào phiên 10-8.
Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm tăng cao chưa phản ánh đúng nguyên nhân cốt lõi thiếu hụt thanh khoản của ngân hàng. Nhưng lãi suất vay kỳ hạn 1 tháng neo ở mức cao và cao hơn nhiều so với lãi suất tiền gửi cùng kỳ hạn đã phản ánh khá rõ nguyên nhân cốt lõi thiếu hụt thanh khoản. Đó là sự mất cân đối lớn giữa kỳ vọng tăng trưởng tín dụng và khả năng huy động nguồn vốn để lấp đầy tín dụng.
Thông qua nhiều điều chỉnh kỹ thuật của Ngân hàng Nhà nước mới đây, dư địa cho tăng trưởng tín dụng đã mở ra đáng kể. Dù vậy, tăng dư địa tín dụng vẫn cùng trên một nền cũ - nền khả năng nguồn vốn đáp ứng. Các dòng vốn trên thực tế chưa thể tăng lên trên bảng cân đối ngân hàng để cải thiện thanh khoản cho hệ thống.
Qua diễn biến thị trường cho thấy, mối quan tâm hàng đầu của Ngân hàng Nhà nước hiện nay là cải thiện thanh khoản cho hệ thống. Đây không chỉ là cách đối phó mang tính thời điểm, ngắn hạn, mà quan trọng hơn là phải tạo được hiệu quả trong trung và dài hạn.
Phải san gánh nặng cho ngân hàng
Không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho 18 đại dự án, với khoảng 752.000 tỷ đồng như hiện tại, mà dự báo sắp tới có hàng chục đại dự án mới với quy mô nhu cầu vốn tín dụng lên cả triệu tỷ đồng sẽ đề nghị ngân hàng cam kết cấp vốn. Cùng với đó, nhu cầu vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn đầu tư mở rộng, hiện đại hóa máy móc, công nghệ, vẫn tiếp tục tăng mà chưa thể đưa ra con số cụ thể.
Có thể thấy, hệ thống ngân hàng không đủ sức gánh nổi khối lượng khổng lồ nhu cầu vốn tín dụng đó. Nếu đáp ứng khối lượng nhu cầu vốn tín dụng khổng lồ ấy thì dễ dẫn đến nguy cơ rủi ro hệ thống. Vì vậy, cần phân tầng nhu cầu vốn theo hướng có lớp lang, đa dạng hóa các kênh huy động, với những hướng đi khả thi để có thể triển khai ngay từ năm 2027 cụ thể là:
Thứ nhất, về phân bổ ngân sách cho đầu tư công hằng năm. Từ năm 2027, ngân sách cho đầu tư công cần có mức tăng đột phá, với quy mô ít nhất từ 1,5 đến 2 triệu tỷ đồng. Với mức tăng này, câu hỏi đặt ra, vốn đầu tư công nên phân bổ vào đâu? Có lẽ trước hết và chủ yếu là phân bổ vào các dự án BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) thông qua việc nâng tỷ lệ vốn Nhà nước tại dự án. Hiện tại, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, quy định trong hình thức đầu tư BOT, vốn đầu tư của Nhà nước chiếm 50% và chiếm 70% đối với dự án đặc biệt là dự án lớn, có chi phí giải phóng mặt bằng cao, dự án sử dụng công nghệ cao và dự án nằm ở địa bàn khó khăn.
Đồng thời, theo quy định của luật, chủ đầu tư dự án BOT, BT (xây dựng - chuyển giao) tham gia vốn tối thiểu 15% tổng vốn dự án. Thực tế, quy mô dự án đến chục nghìn tỷ đồng thì doanh nghiệp đã khó khăn, chứ chưa nói đến tỷ lệ 15% đối với loại đại dự án quy mô vốn hàng trăm nghìn tỷ đồng. Hơn nữa, vốn tự có của doanh nghiệp vào dự án dựa trên dòng tiền, chứ không thể dựa trên vốn tự có ghi nhận tài sản cố định của doanh nghiệp. Càng không thể đáp ứng tỷ lệ 15% với doanh nghiệp có dự án đăng ký triển khai cùng thời gian với nhiều dự án BOT, BT.
Vậy nên, cơ cấu vốn dự án sau khi trừ phần vốn Nhà nước, các ngân hàng tài trợ phải gánh là chủ yếu. Dự án PPP (đối tác công tư) là gánh nặng đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của một số ngân hàng tham gia tài trợ. Tăng tỷ lệ vốn đầu tư của Nhà nước vào dự án PPP mới kỳ vọng giảm bớt gánh nặng cho các ngân hàng thương mại tham gia tài trợ tín dụng.
Thứ hai, Bộ Tài chính nên phát hành trái phiếu quốc tế để dùng nguồn vốn này cho vay lại đối với các đại dự án đầu tư hạ tầng có tầm quốc gia, trực tiếp tăng GDP và tác động lan tỏa làm tăng GDP. Nguồn vốn này có thể giải ngân qua ủy thác cho ngân hàng thương mại. Với uy tín của Chính phủ, cán cân ngân sách nhà nước, dư địa nợ quốc tế của Việt Nam, giải pháp này chắc chắn khả thi. Khối lượng tín dụng quốc tế do Bộ Tài chính phát hành được kỳ vọng mức lãi suất đủ sức chấp nhận.
Thứ ba, đã đến lúc các ngân hàng thương mại cần coi thị trường vốn quốc tế như một phân khúc quan trọng trong chiến lược huy động vốn. Hệ thống ngân hàng không thể trông chờ thị trường huy động vốn trong nước một cách tuyệt đối. Bởi vì nguồn vốn chảy vào ngân hàng bao giờ cũng có giới hạn nhất định.
Đơn cử ngày 30-6-2026, Ngân hàng Thương mại cổ phần phát triển nhà thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) đã hoàn tất khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD. Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VBBank) cũng mới ký khoản vay hợp vốn quốc tế trị giá 1,44 tỷ USD, tương đương 37.900 tỷ đồng. Được coi đây là tín hiệu mở đường khai thông, mở rộng thị trường huy động vốn quốc tế cho hệ thống ngân hàng trong nước.
Thứ tư, cần tăng khả năng tự huy động vốn của các doanh nghiệp dự án thông qua phát hành trái phiếu công trình, thay vì phụ thuộc quá lớn vào nguồn tín dụng ngân hàng. Đương nhiên, bài toán này trông chờ sự phát triển thực sự của thị trường vốn nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng.
Ngoài huy động vốn từ các tổ chức tín dụng và phát hành trái phiếu, nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế đạt hai con số cũng đang kỳ vọng nhiều vào vai trò huy động vốn trung, dài hạn của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, không nên kỳ vọng vào việc quy mô vốn hóa thị trường tăng lên bao nhiêu lần GDP, hay nâng hạng thị trường sẽ huy động được nhiều tỷ USD vốn ngoại. Đó là cách đặt vấn đề làm lệch lạc vai trò thực chất của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay. Điều quan trọng, thị trường chứng khoán phải thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn, qua đó san sẻ gánh nặng với hệ thống ngân hàng.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.