Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 17-3-2026 về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới đã xác định tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực tăng trưởng mới của Thủ đô.
Trên cơ sở đó, thời gian qua thành phố Hà Nội đã tập trung hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao, xây dựng hệ sinh thái đổi mới, sáng tạo đồng bộ để tạo nền tảng cho mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức và công nghệ, góp phần đưa Thủ đô phát triển nhanh, bền vững.

Động lực tăng trưởng thực chất
Trong giai đoạn trước, tăng trưởng của Hà Nội chủ yếu được tạo dựng từ mở rộng không gian đô thị, phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài (FDI), thông qua hình thức sản xuất, gia công cho các đối tác. Tuy nhiên, bước vào kỷ nguyên mới, trước yêu cầu đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, cũng như nâng cao chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn 2026-2030, thành phố đang chuyển mạnh sang đổi mới mô hình phát triển, trong đó lấy tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng. Đây cũng là yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và là định hướng xuyên suốt của Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị, Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm và Luật Thủ đô năm 2026.
Trên nền tảng đó, thành phố Hà Nội đã xây dựng Chương trình hành động triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW với hơn 600 nhiệm vụ cụ thể; ban hành 8 nghị quyết chuyên đề về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm tạo hành lang pháp lý cho cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), quỹ đầu tư mạo hiểm, chính sách thu hút nhân tài và hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghệ. Đồng thời, thành phố hướng tới hình thành vườn ươm công nghệ, doanh nghiệp công nghệ, các trung tâm đổi mới sáng tạo gắn với giáo dục, đào tạo và y tế chất lượng cao, lấy Khu công nghệ cao Hòa Lạc làm hạt nhân nghiên cứu - phát triển (R&D)... Các hoạt động đó tạo nền tảng để Hà Nội hướng tới mục tiêu kinh tế số chiếm khoảng 22% Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), đặt lộ trình nâng tỷ trọng kinh tế số lên 40% trong GRDP vào năm 2030.
Nếu thể chế là “đòn bẩy” thì dữ liệu và quản trị số là công cụ tạo nên năng lực điều hành mới của chính quyền. Chính vì thế, thành phố xác định mọi quyết sách phải được xây dựng trên cơ sở dữ liệu và căn cứ khoa học. Nền tảng HanoiWork được triển khai để quản lý công việc theo thời gian thực gắn với OKR, KPI. Đến nay, hệ thống đã hình thành 178 không gian làm việc với hơn 85.000 tài khoản được kích hoạt, theo dõi trực tuyến trên 191.000 nhiệm vụ, góp phần chuyển phương thức quản lý từ “giao việc hành chính” sang “quản trị số theo mục tiêu, tiến độ, sản phẩm và dữ liệu”.
Song song với đó, Hà Nội cũng chuyển trọng tâm từ hỗ trợ nghiên cứu sang giải quyết trực tiếp các bài toán phát triển. Thành phố xác định được 30 bài toán lớn trong các lĩnh vực giao thông, môi trường, y tế, giáo dục và quản trị đô thị để đặt hàng các trường đại học, viện nghiên cứu, chuyên gia và doanh nghiệp công nghệ. Đến nay, Hà Nội đã tiếp nhận hơn 100 đề xuất nghiên cứu; thúc đẩy hợp tác với các tập đoàn công nghệ trong và ngoài nước để tiếp nhận mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, phát triển trung tâm tính toán hiệu năng cao và giải quyết các bài toán giao thông, quy hoạch đô thị thông minh. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, Hà Nội đã ký 23 biên bản ghi nhớ hợp tác giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức công nghệ; dẫn đầu cả nước với trên 12.300 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp và trên 13.000 văn bằng bảo hộ được cấp.
Những chuyển động về thể chế, quản trị và đổi mới sáng tạo cũng được phản ánh qua kết quả thu hút đầu tư vào các khu công nghệ cao và khu công nghiệp. Khu công nghệ cao Hòa Lạc hiện có 113 dự án, trong khi 9 khu công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố có 740 dự án, tỷ lệ lấp đầy gần 100%. 6 tháng đầu năm 2026, tổng vốn thu hút đầu tư vào các khu công nghệ, công nghiệp của Hà Nội đạt khoảng 848,5 triệu USD quy đổi, đạt 116,2% kế hoạch năm.
Điểm nhấn là dự án Nhà máy Sản xuất linh kiện bán dẫn Viettel với tổng vốn đầu tư khoảng 1,3 tỷ USD, góp phần mở rộng năng lực sản xuất trong lĩnh vực công nghệ cao, thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp bán dẫn trên địa bàn Thủ đô.
Cùng với đó, thành phố đã phê duyệt chủ trương đầu tư 2 dự án xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Tiến Thắng và Phù Đổng với tổng vốn hơn 8.000 tỷ đồng, tạo thêm dư địa phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, đồng bộ và bền vững. Hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các khu công nghệ cao và khu công nghiệp tiếp tục duy trì hiệu quả. Doanh thu sản xuất - kinh doanh của các khu công nghệ cao và khu công nghiệp ước đạt 6.698 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu đạt 4.039 triệu USD và đóng góp khoảng 11.000 tỷ đồng cho ngân sách thành phố (tăng 20% so với cùng kỳ).
Gỡ điểm nghẽn từ việc thay đổi tư duy
Sau 18 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Hà Nội bước đầu ghi nhận những chuyển biến về nhận thức và cách tiếp cận trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Các động lực tăng trưởng mới từng bước được hình thành từ quản trị công, phát triển doanh nghiệp đến thương mại hóa công nghệ. Các mô hình hợp tác “đồng kiến tạo” giữa viện, trường và doanh nghiệp đang được đẩy mạnh; yêu cầu mọi nhiệm vụ phải tạo ra sản phẩm và kết quả thực chất, lấy hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp làm thước đo, đồng thời đánh giá hiệu quả chuyển đổi số bằng các chỉ số cụ thể.
Tuy nhiên, để các động lực này thực sự trở thành nền tảng tăng trưởng của Thủ đô vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Dẫu thành phố có nhiều lợi thế về nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, giáo dục, tài chính và quy mô thị trường, song còn hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng doanh nghiệp khoa học, công nghệ, trong khi các động lực tăng trưởng mới chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa đủ mạnh. Điều đó cho thấy, những điểm nghẽn không đơn thuần nằm ở hạ tầng hay nguồn lực đầu tư mà còn ở phương thức tổ chức phát triển và cơ chế vận hành.
Khu công nghệ cao Hòa Lạc là minh chứng rõ nét. Dù được bàn giao về thành phố Hà Nội quản lý từ năm 2023, đến nay khu vực này vẫn còn nhiều điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng; hạ tầng khoa học, công nghệ và hạ tầng xã hội chưa đồng bộ; cơ sở dữ liệu, công cụ quản trị và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Đáng chú ý, Hòa Lạc vẫn chủ yếu được tiếp cận như một khu công nghệ cao độc lập, trong khi một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo chỉ có thể hình thành khi được đặt trong tổng thể liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, đô thị, hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục và các dịch vụ hỗ trợ.
Chính vì thế, tại buổi làm việc của Thường trực Thành ủy Hà Nội với Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp thành phố Hà Nội ngày 10-7-2026, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội Trần Đức Thắng cũng nhấn mạnh, cần thay đổi cách tiếp cận và cách làm; đặt Khu công nghệ cao Hòa Lạc trong tổng thể phát triển khu vực phía Tây Thủ đô; đồng thời kiện toàn bộ máy quản lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, rà soát các dự án chậm triển khai và phát triển đồng bộ hạ tầng xã hội.
Phó Chủ tịch UBND thành phố Trương Việt Dũng cũng nhận định, cần chuyển sang tư duy phát triển mới, đồng thời hoàn thiện bộ máy quản lý, nâng cao tính chủ động trong điều hành và lựa chọn nhà đầu tư theo hướng có chọn lọc đối với lĩnh vực công nghệ cao. Bên cạnh đó, Hà Nội cần đẩy mạnh xây dựng hệ thống quản trị đô thị thông minh, huy động nguồn lực tài chính và bảo đảm nguồn năng lượng sạch...
Từ yêu cầu đặt ra đối với Khu công nghệ cao Hòa Lạc có thể thấy, mục tiêu của Hà Nội không chỉ là tháo gỡ những khó khăn của một khu công nghệ cao, mà xa hơn là đổi mới tư duy quản trị và mô hình phát triển của toàn thành phố. Bởi trong bối cảnh cạnh tranh giữa các đô thị ngày càng được quyết định bởi năng lực đổi mới sáng tạo và trình độ công nghệ, lợi thế cạnh tranh của Hà Nội sẽ được quyết định bởi khả năng kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kết nối Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức khoa học thành một chuỗi giá trị thống nhất. Trong hệ sinh thái đó, chính quyền giữ vai trò kiến tạo thể chế và dẫn dắt, doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới sáng tạo, còn các trường đại học, viện nghiên cứu là nguồn cung tri thức và công nghệ cho nền kinh tế.
Với vị thế và vai trò đặc biệt, Hà Nội phải đi đầu và có trách nhiệm tạo dựng những mô hình mới, cách làm mới để dẫn dắt sự phát triển. Chặng đường phía trước đòi hỏi sự kiên định trong định hướng, quyết liệt trong tổ chức thực hiện và hiệu quả trong từng chính sách để chuyển hóa tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh. Đó cũng là nền tảng để Hà Nội hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết số 02-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và nghiên cứu, phát triển vào năm 2035, tiến tới trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực châu Á vào năm 2045; hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng để bắt nhịp với xu thế phát triển mới của thế giới...
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.