Trước những diễn biến dị thường, khốc liệt của biến đổi khí hậu, việc thay thế Luật Phòng, chống thiên tai không chỉ đơn thuần là sửa đổi một văn bản pháp lý, mà là cuộc cách mạng về tư duy quản trị quốc gia, chuyển từ thế bị động "chống đỡ" sang chủ động "quản lý rủi ro"...
Những năm gần đây, cụm từ “chưa từng thấy trong lịch sử” liên tục được nhắc lại khi nói về các hiện tượng thời tiết tại Việt Nam. Từ những trận lũ quét, sạt lở đất kinh hoàng tại miền núi phía Bắc, đợt hạn mặn lịch sử bủa vây đồng bằng sông Cửu Long, cho đến các siêu bão đổ bộ vào miền Trung với sức tàn phá vượt mọi kịch bản giả định. Rõ ràng, quy luật tự nhiên đã bị phá vỡ bởi biến đổi khí hậu cực đoan.
Trước bối cảnh đó, Luật Phòng, chống thiên tai hiện hành sau hơn một thập kỷ đồng hành với đất nước đã bắt đầu bộc lộ những rào cản hành chính và sự bất cập về mặt pháp lý. Cơ chế điều hành liên vùng, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, hay quy trình ban bố tình trạng khẩn cấp và cứu trợ khẩn cấp vẫn còn những nút thắt cần tháo gỡ.
Thực tiễn đòi hỏi một tư duy quản trị mới, một hành lang pháp lý bao quát và linh hoạt hơn để bảo vệ tính mạng của nhân dân và thành quả kinh tế - xã hội. Đó chính là lý do Dự thảo Luật Phòng, chống thiên tai (thay thế) ra đời, mang theo sứ mệnh định hình lại chiến lược an ninh an toàn quốc gia.

Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai Phạm Đức Luận cho biết: Sau 12 năm thực hiện, hệ thống pháp luật về phòng, chống thiên tai đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống thiên tai, chuyển từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa; hệ thống tổ chức cơ quan chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai được kiện toàn; công tác ứng phó được thực hiện từ sớm, từ xa; công tác thông tin, truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng có nhiều tiến bộ.
Đặc biệt, hệ thống đê điều, các công trình cơ sở hạ tầng quan trọng được nâng cao sức chống chịu; hợp tác quốc tế được tăng cường, huy động được nhiều nguồn lực từ các quốc gia, tổ chức quốc tế giúp khắc phục hậu quả thiên tai; công tác khắc phục hậu quả nhận được sự quan tâm của toàn xã hội thể hiện tình dân tộc, nghĩa đồng bào, không để ai bị bỏ lại phía sau do hậu quả thiên tai…
Tuy nhiên, thực tiễn những năm gần đây cho thấy, thiên tai diễn biến ngày càng cực đoan, bất thường, vượt xa các kịch bản và mốc lịch sử trước đây, trong khi một số quy định của Luật hiện hành đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Qua quá trình tổng kết thi hành Luật Phòng, chống thiên tai, có 5 nhóm vấn đề lớn cần được sửa đổi, bổ sung, cụ thể: Công tác điều phối liên ngành trong phòng, chống thiên tai các cấp còn gặp khó khăn, vướng mắc, chồng chéo trong thường trực tham mưu chỉ đạo, điều hành.
Một số thẩm quyền về đề xuất nguồn lực từ dự phòng ngân sách nhà nước để hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai; thẩm quyền, trách nhiệm kêu gọi, tiếp nhận các khoản hỗ trợ khẩn cấp từ quốc tế trong các tình huống khẩn cấp về thiên tai còn chồng lấn, chưa rõ trách nhiệm, dẫn đến chỉ đạo thực hiện bị kéo dài.
Việc lập quy hoạch, kế hoạch và công tác quản lý thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình chưa đánh giá đầy đủ tác động của thiên tai, dẫn đến gia tăng rủi ro thiên tai, thay đổi dòng chảy, cản trở thoát lũ, gây ngập lụt trầm trọng hơn.
Việc ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phòng, chống thiên tai vẫn còn hạn chế, chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu lớn dùng chung hoặc sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia từ các ngành cho công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, đặc biệt là công nghệ viễn thám, ảnh vệ tinh, máy bay không người lái và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).
Đặc biệt, Luật Phòng, chống thiên tai hiện hành chưa có chính sách để ưu tiên sử dụng dung tích hữu ích của các hồ chứa phục vụ cắt giảm lũ cho hạ du trong bối cảnh mưa lũ ngày càng cực đoan.
Theo ông Phạm Đức Luận, chính sách dự án Luật Phòng, chống thiên tai (thay thế) nhằm thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác phòng, chống thiên tai, đặc biệt là Kết luận số 213-KL/TW ngày 21-11-2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24-3-2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.

Tại dự án Luật Phòng, chống thiên tai (thay thế), Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng 5 chính sách mới, cụ thể là, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan từ Trung ương đến cơ sở về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai theo hướng quản lý rủi ro thiên tai.
Trong đó có việc rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chỉ đạo, chỉ huy, bảo đảm tính thống nhất, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực chỉ đạo, điều hành, điều phối liên ngành về phòng, chống thiên tai; có chính sách đặc thù cho lực lượng làm công tác phòng, chống thiên tai.
Cùng với đó là thống nhất thẩm quyền tổng hợp nhu cầu cứu trợ, hỗ trợ; thẩm quyền, trách nhiệm kêu gọi, tiếp nhận các khoản hỗ trợ khẩn cấp từ quốc tế trong các tình huống khẩn cấp về thiên tai. Bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai trong quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội; bảo đảm an toàn và khả năng chống chịu của công trình phòng, chống thiên tai, cơ sở hạ tầng.
Đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hiện đại hoá hệ thống quan trắc, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, mô hình trí tuệ nhân tạo và xây dựng, sử dụng cơ sở dữ liệu lớn dùng chung cho công tác phòng, chống thiên tai.
Đặc biệt là chính sách ưu tiên dành dung tích hữu ích của các hồ chứa để cắt lũ cho hạ du; nghiên cứu áp dụng cơ chế trưng dụng dung tích hữu ích của hồ chứa để cắt lũ cho hạ du.
Theo Kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2027 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dự án Luật Phòng, chống thiên tai (thay thế) dự kiến được trình Quốc hội vào tháng 5 năm 2027. Căn cứ các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn, hiện nay Bộ đã xây dựng, hoàn thiện hồ sơ chính sách Luật Phòng, chống thiên tai thay thế Luật hiện hành và gửi Bộ Tư pháp thẩm định.
Kỳ vọng lớn nhất của Bộ là xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan, khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lặp, loại bỏ rào cản thể chế, bổ sung các khoảng trống pháp luật; bảo đảm phòng ngừa chủ động, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và hiệu quả theo hướng xây dựng lại tốt hơn...
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.