Kinh tế

Dữ liệu mở đường cho dòng vốn xanh

Phương Nga 18/09/2026 - 17:11

Dòng vốn xanh đang đòi hỏi dữ liệu minh bạch, công nghệ và năng lực đo lường tác động. Kết nối các nguồn lực này là chìa khóa để Việt Nam nâng chất lượng dòng vốn và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Dữ liệu trở thành nền tảng phân bổ vốn

Trong bối cảnh dòng vốn quốc tế ngày càng hướng tới các ngành chiến lược và những dự án có khả năng tạo tác động dài hạn, lợi thế cạnh tranh của một quốc gia không còn chỉ nằm ở chi phí lao động hay quy mô thị trường. Hạ tầng số, năng lực khoa học - công nghệ, khả năng hấp thụ công nghệ và hệ thống tài chính có khả năng phân bổ vốn dựa trên dữ liệu đang trở thành những yếu tố quan trọng.

Theo Báo cáo Dữ liệu Khoa học và Kỹ thuật trong kỷ nguyên phát triển bền vững của Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển, vốn xanh đã chuyển từ một thị trường ngách thành cấu phần ngày càng quan trọng của thị trường vốn quốc tế. Tại Việt Nam, xu hướng này đặt ra yêu cầu kết nối chặt chẽ hơn giữa dữ liệu, tri thức, công nghệ và nguồn lực tài chính.

2aoboqzsozdjt4jycvfhjtbyvusrkms70cfqywi4.jpg
AI đang thay đổi cách nhân sự ngành ngân hàng tiếp cận và thấu hiểu khách hàng. Ảnh: PV

Một trong những thay đổi rõ nét của thị trường tài chính là các quyết định phân bổ vốn ngày càng dựa trên nhiều loại dữ liệu hơn. Nếu trước đây tín dụng chủ yếu được đánh giá qua năng lực tài chính, tài sản bảo đảm và dòng tiền, thì dữ liệu về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) ngày càng được đưa vào quá trình đánh giá.

Đặc biệt với tài chính xanh và tín dụng liên kết bền vững, doanh nghiệp muốn tiếp cận nguồn vốn phải chứng minh được mức độ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững bằng những chỉ tiêu có thể đo lường, xác minh. Từ đó hình thành một chuỗi liên kết: mục tiêu bền vững - dữ liệu - chỉ tiêu đo lường - xác minh - điều kiện tài chính - kết quả thực hiện và dữ liệu phản hồi.

Xu hướng này đang thúc đẩy hệ thống ngân hàng chuyển từ quản lý vốn đơn thuần sang quản trị dữ liệu và rủi ro dựa trên dữ liệu. Cùng với chuyển đổi số, AI và phân tích dữ liệu được đưa vào nhiều khâu như chấm điểm tín dụng, phát hiện giao dịch bất thường, quản trị rủi ro, chăm sóc khách hàng và hỗ trợ cán bộ quan hệ khách hàng.

Đặc biệt, trong chăm sóc khách hàng, AI đang thay đổi cách nhân sự ngành ngân hàng tiếp cận và thấu hiểu khách hàng. Ông Trần Công Quỳnh Lân, Phó Tổng Giám đốc Viettinbank chia sẻ, thay vì mất nhiều giờ nghiên cứu báo cáo, cán bộ quan hệ khách hàng nay chỉ cần vài chục giây để trợ lý AI phác họa chân dung, nhận diện nhu cầu, gợi ý sản phẩm và xây dựng kịch bản chăm sóc phù hợp.

Sau gần 2 tháng triển khai, Trợ lý AI đã phục vụ hơn 5.600 cán bộ với trên 84.000 yêu cầu hỗ trợ. Không dừng ở công cụ có sẵn, VietinBank hướng tới trao quyền để mỗi cán bộ tự xây dựng “trợ lý AI” riêng. Trên nền tảng MyGenie, chỉ trong 5 tháng, hơn 1.100 AI Agent đã được đưa vào vận hành, phục vụ từ nhu cầu cá nhân đến nghiệp vụ tại đơn vị.

Cách tiếp cận này cho thấy công nghệ không đứng ngoài kinh doanh mà đang trở thành công cụ đồng hành cùng mỗi cán bộ, giúp ra quyết định nhanh hơn, phục vụ khách hàng tốt hơn và tạo ra giá trị cụ thể.

Điểm đáng chú ý không nằm ở một công cụ hay một ngân hàng cụ thể, mà ở sự thay đổi phương thức vận hành của ngành. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối, AI có thể chuyển lượng dữ liệu lớn thành thông tin phục vụ quyết định, qua đó nâng cao chất lượng phân bổ vốn, nhất là đối với những lĩnh vực cần đánh giá đồng thời hiệu quả tài chính và tác động môi trường, xã hội.

Tạo hệ sinh thái hấp thụ công nghệ

Sự chuyển dịch của dòng vốn quốc tế càng cho thấy yêu cầu xây dựng một hệ sinh thái đủ năng lực hấp thụ công nghệ. Báo cáo Đầu tư Thế giới 2026 của UNCTAD cho biết, FDI toàn cầu năm 2025 đạt khoảng 1,6 nghìn tỷ USD, tăng 6%. Tuy nhiên, dòng vốn ngày càng tập trung vào các ngành chiến lược. Năm 2025, nhóm ngành này chiếm 44% giá trị các dự án đầu tư mới trên toàn cầu, tăng mạnh so với mức 16% năm 2020.

Điều đó cho thấy các quốc gia không còn cạnh tranh chủ yếu bằng chi phí mà bằng chất lượng hệ sinh thái, từ hạ tầng số, năng lượng, nhân lực khoa học - công nghệ đến năng lực nghiên cứu, hấp thụ công nghệ và khả năng cung cấp nguồn vốn phù hợp.

Việt Nam đang có những tiền đề đáng kể. Sáu tháng đầu năm 2026, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ. Tính đến tháng 7-2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tiếp nhận 31 hồ sơ nhiệm vụ công nghệ chiến lược với tổng kinh phí dự kiến gần 9.700 tỷ đồng. Cả nước có 964 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, 46 tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo và hơn 81.600 doanh nghiệp công nghệ số.

Hạ tầng dữ liệu cũng phát triển nhanh, với hơn 4,6 tỷ giao dịch trên Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia và 32,5 triệu chứng thư chữ ký số được cấp tính đến tháng 7-2026.

Tuy nhiên, nguồn lực lớn chưa đồng nghĩa với khả năng tạo ra giá trị tương xứng. Hàng tỷ giao dịch dữ liệu hay hàng nghìn công bố khoa học chỉ thực sự tạo ra giá trị kinh tế khi được chuyển hóa thành tri thức, công nghệ, sản phẩm và cuối cùng là dòng vốn đầu tư cho thương mại hóa.

Bà Lê Nguyễn Thiên Nga, Viện trưởng Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển khuyến nghị, Việt Nam cần xây dựng kiến trúc dữ liệu khoa học, kỹ thuật liên thông, chuẩn hóa; đồng thời thúc đẩy liên kết thực chất giữa nghiên cứu, doanh nghiệp và tài chính, tạo con đường từ ý tưởng khoa học đến giá trị thương mại và huy động vốn.

Theo bà Thiên Nga, một nhiệm vụ quan trọng khác là hoàn thiện hạ tầng dữ liệu ESG có khả năng xác minh, qua đó hỗ trợ tài chính xanh và tín dụng liên kết bền vững. Cùng với đó, thu hút FDI cần chuyển từ tiếp cận từng dự án sang xây dựng mạng lưới nguồn lực trong các lĩnh vực như bán dẫn, AI, năng lượng, nhằm tăng khả năng chuyển giao công nghệ và kết nối doanh nghiệp trong nước với chuỗi cung ứng toàn cầu.

Để chuỗi giá trị này vận hành hiệu quả, cần sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, ngân hàng, tổ chức tài chính và các tập đoàn công nghệ. Nhà nước tạo dựng thể chế và hạ tầng; khu vực nghiên cứu cung cấp tri thức, công nghệ; doanh nghiệp hấp thụ và thương mại hóa; còn hệ thống tài chính đưa nguồn vốn đến những dự án có khả năng tạo giá trị và tác động bền vững.

Yêu cầu đặt ra không chỉ là tạo thêm dữ liệu hay ứng dụng thêm công nghệ, mà quan trọng hơn là kết nối các nguồn lực thành một chu trình khép kín: dữ liệu tạo bằng chứng, khoa học tạo tri thức, công nghệ tạo năng lực sản xuất và tài chính đưa nguồn lực vào thực tiễn. Đây có thể trở thành nền tảng để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút dòng vốn chất lượng cao và thúc đẩy tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Dữ liệu mở đường cho dòng vốn xanh

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.