Trong kỷ nguyên số, doanh nghiệp khoa học và công nghệ được xác định là “hạt nhân” thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ chính là bộ phận nòng cốt phát triển kinh tế tri thức. Đây là những đơn vị trực tiếp thúc đẩy quá trình ứng dụng các thành tựu nghiên cứu vào đời sống, biến chất xám thành giá trị kinh tế cụ thể.
Tính đến tháng 7-2026, cả nước có 965 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Các đơn vị này phủ sóng rộng khắp trong nhiều lĩnh vực trọng yếu, như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, cơ khí chế tạo, vật liệu mới, nông nghiệp công nghệ cao, y dược và môi trường.
Đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp này không chỉ dừng ở con số mà còn nằm ở khả năng làm thay đổi mô hình tăng trưởng. Thay vì dựa vào tài nguyên hay lao động giá rẻ, các doanh nghiệp khoa học và công nghệ giúp nền kinh tế chuyển dịch sang hướng dựa trên khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Đến hết năm 2025, 335 doanh nghiệp tiêu biểu đạt tổng doanh thu khoảng 190.673 tỷ đồng. Đặc biệt, doanh thu từ các sản phẩm trực tiếp mang yếu tố khoa học và công nghệ là 40.935 tỷ đồng, mang về lợi nhuận trước thuế 1.841 tỷ đồng. Quan trọng hơn, khu vực này đang tạo ra công ăn việc làm cho hơn 39.000 lao động, với đặc thù là nhân lực có kỹ thuật và chuyên môn cao.
Minh chứng điển hình cho sự chuyển mình mạnh mẽ này là trường hợp của Công ty cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông. Với trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT) và điện toán đám mây, Rạng Đông đã xác định đổi mới sáng tạo là con đường phát triển bền vững. Doanh nghiệp này đã ứng dụng đồng bộ công nghệ số, từ tự động hóa đến thông minh hóa trong toàn bộ hệ sinh thái sản phẩm. Các giải pháp như nhà thông minh (smart home), đô thị thông minh (smart city), nông nghiệp công nghệ cao (smart farm) và năng lượng xanh đã giúp doanh nghiệp không chỉ nâng cao năng lực quản trị mà còn tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn lực.
.jpg)
Tại Rạng Đông, khoa học công nghệ được ưu tiên hàng đầu thông qua các con số tài chính cụ thể. Công ty dành khoảng 15% lợi nhuận sau thuế cho hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D), 7% cho các quỹ đổi mới sáng tạo, đầu tư mạo hiểm. Với 6 trung tâm tri thức và mạng lưới liên kết với 14 trường đại học, doanh nghiệp đã tạo ra một mô hình đào tạo nhân lực thực chiến hiệu quả.
Kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm tại Rạng Đông ghi nhận doanh thu đạt 3.413 tỷ đồng, tăng 24,5% so với cùng kỳ; lợi nhuận trước thuế đạt 266,1 tỷ đồng, tăng 37%, lợi nhuận sau thuế đạt 233,6 tỷ đồng, tăng 36,9% so với nửa đầu năm ngoái. Những con số này là minh chứng rõ nét nhất cho việc đầu tư vào khoa học công nghệ chính là đầu tư cho sự tăng trưởng bền bỉ và bứt phá.

Theo các chuyên gia, quy mô và chất lượng của hệ thống doanh nghiệp khoa học và công nghệ hiện nay vẫn chưa thực sự tương xứng với kỳ vọng như đề ra trong Nghị quyết 57. Cơ cấu quy mô doanh nghiệp đang có sự chênh lệch lớn khi khoảng 80% doanh nghiệp khoa học và công nghệ có quy mô nhỏ (vốn dưới 50 tỷ đồng, dưới 100 lao động), hơn 17% là doanh nghiệp vừa và chỉ có trên 2% là doanh nghiệp lớn, như FPT, Viettel, VNG…
Chính sự thiếu hụt các doanh nghiệp quy mô vừa đã cản trở khả năng hấp thụ và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu từ các viện, trường. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhỏ dù linh hoạt nhưng lại vấp phải rào cản về vốn và năng lực sở hữu trí tuệ. Còn số lượng doanh nghiệp lớn quá ít lại khiến vai trò dẫn dắt chuỗi cung ứng và lan tỏa đổi mới sáng tạo chưa đạt được hiệu quả như mong đợi. Thêm vào đó, việc doanh nghiệp tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã tạo ra sự mất cân đối về vùng miền trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn quốc.
Cũng theo các chuyên gia, các doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong nước còn gặp những điểm yếu về tiêu chuẩn quản trị phát triển bền vững (ESG). Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển, các doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với áp lực cạnh tranh từ các tập đoàn quốc tế có tiềm lực mạnh và tuân thủ các chuẩn mực ESG khắt khe. Yêu cầu kép của kinh tế số bền vững đòi hỏi đổi mới công nghệ phải đi đôi với trách nhiệm môi trường và xã hội, một năng lực mà nhiều doanh nghiệp nội địa hiện vẫn còn thiếu hụt.
Để tháo gỡ những nút thắt này, Nhà nước đã và đang từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý với nhiều chính sách ưu đãi mang tính đột phá. Hiện nay, doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hưởng các đặc quyền về thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước và ưu đãi tín dụng đầu tư. Đáng chú ý nhất là chính sách áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong thời gian 15 năm và cho phép khấu trừ tới 200% chi phí R&D khi tính thuế. Đây là những bước đi quan trọng nhằm nâng cao sức hấp dẫn, tạo động lực mạnh mẽ để doanh nghiệp mạnh dạn đổ vốn vào khoa học và công nghệ.

Tuy nhiên, thực tế triển khai vẫn còn không ít khó khăn. Do các chính sách ưu đãi nằm rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau từ thuế, đất đai đến đầu tư, nên việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý tại địa phương đôi khi còn thiếu đồng bộ. Cách hiểu và áp dụng quy định ở một số nơi chưa thống nhất, khiến nhiều doanh nghiệp lúng túng khi tiếp cận các gói hỗ trợ.
Thông tin với báo chí mới đây, Bộ Khoa học và Công nghệ cam kết sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành để rà soát, đề xuất hoàn thiện cơ chế theo hướng minh bạch và thuận lợi hơn. Việc tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận chính sách ưu đãi và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu sẽ là nhiệm vụ trọng tâm. Chỉ khi những rào cản về thể chế được khơi thông, lực lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ mới thực sự trở thành nòng cốt để đưa Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu nằm trong top 3 ASEAN về năng lực số và thuộc top 30 toàn cầu về đổi mới sáng tạo, góp phần phát triển kinh tế, xã hội bền vững trong kỷ nguyên mới.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.