Vào lúc 19h tối nay, 12-6, Chương trình “Hà Nội chuyển động” với chủ đề “Để y học cổ truyền thành sức mạnh mềm quốc gia” được phát sóng trực tiếp từ Trường quay S1, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.
Chương trình phát sóng trên kênh H1 và được thông tin trực tuyến trên các nền tảng số của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.
Kế thừa tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân”, y học cổ truyền Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để chuẩn hóa, hiện đại hóa và trở thành nguồn lực cho kinh tế sức khỏe. Chương trình có thời lượng 60 phút, với hai khách mời là ông Chu Hải Đăng, Phó Chủ tịch Hội Đông y thành phố Hà Nội và Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Luật, Phó Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương.

Đặc biệt, Chương trình sẽ kết nối trực tiếp với phóng viên hiện trường tại Khoa Điều trị nội trú, Bệnh viện Châm cứu Trung ương để ghi nhận hiệu quả kết hợp Đông - Tây y trong điều trị cho người bệnh; đồng thời thẳng thắn nhìn nhận các điểm nghẽn về thu hút nhân lực trẻ, nguy cơ mai một bài thuốc gia truyền, rào cản chuẩn hóa chứng cứ khoa học và tiến độ chuyển đổi số; định hướng các ưu tiên chiến lược trong 5 năm tới nhằm biến hơn 5.000 loài cây thuốc và tri thức bản địa thành thương hiệu quốc gia, hướng tới mục tiêu 100% tổ chức hội ứng dụng công nghệ thông tin trong nhiệm kỳ 2026-2031.

Đây là sự kiện truyền thông ý nghĩa, mở ra tầm nhìn mới đưa di sản y học cổ truyền dân tộc trở thành trụ cột y tế hiện đại và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới.
Hà Nội có tiềm năng trở thành mô hình tiêu biểu về phát triển y học cổ truyền
Hà Nội hiện có 5.082 hội viên, 110 đơn vị trực thuộc cùng mạng lưới hơn 430 phòng khám, phòng chẩn trị y học cổ truyền. Theo ông Chu Hải Đăng, Phó Chủ tịch Hội Đông y Hà Nội, những con số này cho thấy, Hà Nội đang sở hữu nền tảng và tiềm năng rất lớn để phát triển y học cổ truyền.

Ông Đăng phân tích, trước hết, Hà Nội có đội ngũ hội viên, thầy thuốc, lương y đông đảo. Đây là những người trực tiếp gần dân, hiểu dân, có nhiều kinh nghiệm trong khám chữa bệnh, tư vấn và chăm sóc sức khỏe, đặc biệt đối với người cao tuổi, người mắc bệnh mạn tính và những đối tượng có nhu cầu chăm sóc sức khỏe bằng các phương pháp y học cổ truyền.
Bên cạnh đó, Hà Nội còn sở hữu nguồn vốn quý về tri thức y học cổ truyền. Giá trị của y học cổ truyền không chỉ nằm ở các bài thuốc hay y thư cổ mà còn là kho tàng tri thức dân tộc, gắn với truyền thống Nam dược, kinh nghiệm chữa bệnh dân gian và sử dụng cây thuốc bản địa. Đây là những giá trị cần được bảo tồn, kế thừa và phát huy trong đời sống hiện đại.
Theo ông Chu Hải Đăng, Hà Nội cũng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển thành mô hình tiêu biểu của cả nước về y học cổ truyền. Thủ đô có hệ thống y tế, đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ và truyền thông phát triển, tạo điều kiện thuận lợi để kết nối nguồn lực và đưa y học cổ truyền tham gia sâu hơn vào công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.
“Nếu biết chuyển hóa, số hóa và kết nối hiệu quả các nguồn lực hiện có, y học cổ truyền có thể đóng góp tích cực vào công tác phòng bệnh, dưỡng sinh, chăm sóc sức khỏe người dân, nhất là người cao tuổi và người mắc bệnh mạn tính”, ông Đăng nhấn mạnh.
Về định hướng thời gian tới, Hội Đông y thành phố Hà Nội xác định tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm, như: Củng cố tổ chức hội; nâng cao trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp cho cán bộ, hội viên và những người hành nghề y học cổ truyền; bảo tồn các bài thuốc, cây thuốc và kinh nghiệm quý của dân tộc; xây dựng cơ sở dữ liệu Đông y Hà Nội phục vụ phát triển mô hình chăm sóc sức khỏe cộng đồng; đồng thời từng bước xây dựng thương hiệu Đông y Hà Nội.
“Tôi tin rằng, với nền tảng hiện có, y học cổ truyền Hà Nội có thể trở thành một mô hình quan trọng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, góp phần phát triển kinh tế sức khỏe và quảng bá các giá trị văn hóa của Thủ đô”, ông Chu Hải Đăng khẳng định.
Nhu cầu khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền ngày càng cao

Trước thực tế các cơ sở thuộc Hội Đông y Hà Nội đã khám, chữa bệnh cho hơn 14,5 triệu lượt người trong giai đoạn 2021-2025, vượt gần 40% chỉ tiêu nhiệm kỳ, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Luật, Phó Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương cho rằng, nhu cầu của người dân đối với y học cổ truyền đang gia tăng mạnh mẽ, đồng thời có những thay đổi đáng kể về yêu cầu và mục tiêu chăm sóc sức khỏe.
Theo Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Luật, người dân ngày càng lựa chọn kỹ lưỡng hơn đối với các phương pháp điều trị, đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả khám chữa bệnh. Một trong những xu hướng nổi bật hiện nay là người dân chuyển dần từ tư duy chữa bệnh sang kết hợp chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh. Khi đời sống được nâng cao, nhu cầu bảo vệ sức khỏe từ sớm, từ xa ngày càng được quan tâm thay vì chỉ tìm đến cơ sở y tế khi đã mắc bệnh.
“Đây là một trong những thế mạnh nổi bật của nền y học cổ truyền nước ta”, Phó Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, quá trình già hóa dân số tại Việt Nam cũng đang làm gia tăng các bệnh lý mãn tính và bệnh thoái hóa, như thoái hóa khớp, đau cột sống hay các bệnh liên quan đến độ tuổi. Trong nhiều năm qua, vai trò của y học cổ truyền trong hỗ trợ điều trị và nâng cao chất lượng sống cho nhóm bệnh nhân này đã được khẳng định, từ đó ngày càng nhiều người lựa chọn các phương pháp điều trị bằng y học cổ truyền.
Tuy nhiên, theo Phó Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương, cùng với sự phát triển của ngành Y tế, người dân hiện cũng kỳ vọng y học cổ truyền sẽ được kết hợp chặt chẽ hơn với y học hiện đại nhằm mang lại hiệu quả điều trị tối ưu.
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Luật cho rằng, mục tiêu quan trọng nhất là tận dụng những phương pháp an toàn, hiệu quả của y học cổ truyền kết hợp với các thành tựu phù hợp của y học hiện đại để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đây cũng là xu hướng phát triển tất yếu, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và khắt khe của người bệnh trong giai đoạn hiện nay.
Y học cổ truyền: Nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển đất nước
Trả lời câu hỏi về những nét đặc sắc giúp y học cổ truyền Việt Nam trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, ông Chu Hải Đăng, Phó Chủ tịch Hội Đông y thành phố Hà Nội cho rằng, cần nhìn nhận y học cổ truyền không chỉ là một lĩnh vực y tế mà còn là nguồn lực quan trọng phục vụ phát triển đất nước.

Theo ông Đăng, lợi thế của y học cổ truyền Việt Nam được hình thành từ bốn giá trị cốt lõi.
Đầu tiên là giá trị tri thức dân tộc. Từ hàng nghìn năm trước, triều đình đã thành lập Thái Y viện với nhiệm vụ chăm lo sức khỏe cho nhân dân. Y học cổ truyền Việt Nam ngày nay được kế thừa từ nền tảng thực tiễn đó, tích lũy qua nhiều thế hệ với những kinh nghiệm phòng bệnh, chữa bệnh, dưỡng sinh và chăm sóc sức khỏe không dùng thuốc.
Ông nhấn mạnh, quan điểm của y học cổ truyền là coi trọng phòng bệnh và điều trị từ sớm. "Thượng y trị vị bệnh”, tức là chữa khi bệnh chưa hình thành. Đây cũng là hướng tiếp cận tương đồng với mô hình chăm sóc sức khỏe ban đầu và y học gia đình đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Việc phát hiện sớm các nguy cơ bệnh tật và chủ động chăm sóc sức khỏe cộng đồng là yếu tố rất quan trọng.
Bên cạnh đó, những giá trị mà các bậc tiền nhân để lại như tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân”, người Việt dùng thuốc Việt, vẫn còn nguyên ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay. Các phương pháp điều trị và chăm sóc sức khỏe được hình thành từ chính điều kiện tự nhiên, môi trường sống và thể trạng của người Việt Nam.
Giá trị thứ hai là nguồn dược liệu phong phú. Việt Nam có nhiều cây thuốc bản địa, nhiều loại dược liệu quý cùng đội ngũ lương y, thầy thuốc giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả nguồn lực này, cần đẩy mạnh chuẩn hóa, kiểm nghiệm chất lượng, truy xuất nguồn gốc và nâng cao công tác bào chế.
Giá trị thứ ba là mô hình chăm sóc sức khỏe toàn diện. Theo ông Chu Hải Đăng, y học cổ truyền không chỉ tập trung chữa bệnh mà còn chú trọng phòng bệnh và duy trì trạng thái cân bằng của cơ thể. Theo quan niệm Đông y, khi âm dương mất cân bằng sẽ phát sinh bệnh tật. Vì vậy, mục tiêu của điều trị là khôi phục sự cân bằng đó để nâng cao sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật một cách bền vững.
Giá trị thứ tư là khả năng kết nối với các lĩnh vực phát triển mới. Nếu biết kết hợp với khoa học công nghệ, du lịch sức khỏe, truyền thông và xây dựng thương hiệu, y học cổ truyền Việt Nam hoàn toàn có thể được quảng bá rộng rãi ra thế giới.
Ông Đăng cho rằng lợi thế cạnh tranh của y học cổ truyền Việt Nam không chỉ nằm ở các bài thuốc hay cây thuốc quý mà còn ở sự kết hợp giữa tri thức dân tộc, nguồn dược liệu, các phương pháp chăm sóc sức khỏe và kinh nghiệm thực tiễn được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Cần thêm bằng chứng khoa học để vươn tầm thế giới

Theo Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Luật, Phó Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương, Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế đặc thù để khẳng định vị thế trên bản đồ y học truyền thống thế giới. Tuy nhiên, để xây dựng thương hiệu quốc gia cho y học cổ truyền, điều quan trọng nhất là phải tăng cường nghiên cứu khoa học và tạo ra các bằng chứng thực chứng có giá trị quốc tế.
Chia sẻ về những lợi thế của y học cổ truyền Việt Nam, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Luật cho biết, bên cạnh nguồn dược liệu phong phú và truyền thống y học lâu đời, Việt Nam còn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực này.
Nhiều chủ trương, chính sách lớn đã nhấn mạnh vai trò của y học cổ truyền trong chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân, đặc biệt là định hướng chuyển từ tư duy chữa bệnh sang phòng bệnh. Đây được xem là nền tảng quan trọng để y học cổ truyền phát huy thế mạnh trong giai đoạn mới.
Một lợi thế nổi bật khác của Việt Nam là hệ thống mạng lưới y học cổ truyền được xây dựng rộng khắp từ trung ương đến cơ sở. Hiện nay, Việt Nam có các bệnh viện chuyên ngành đầu ngành như Bệnh viện Châm cứu Trung ương, Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương cùng hệ thống hội nghề nghiệp, bệnh viện y học cổ truyền tại các địa phương từ cấp tỉnh, huyện đến xã.
Theo ông Nguyễn Duy Luật, đây là một trong những nền tảng quan trọng giúp Việt Nam phát triển y học cổ truyền một cách đồng bộ và bền vững. Bên cạnh đó, nhiều phương pháp điều trị bằng y học cổ truyền đã được Bộ Y tế công nhận và đưa vào áp dụng rộng rãi trong hệ thống khám chữa bệnh.
Đặc biệt, thương hiệu y học cổ truyền Việt Nam đã có những dấu ấn nhất định trên trường quốc tế. Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Luật nhắc lại những đóng góp của cố Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Tài Thu trong việc đưa phương pháp châm cứu Việt Nam ra thế giới. Đến nay, nhiều trung tâm châm cứu mang tên Hồ Chí Minh tại khu vực Mỹ Latinh, trong đó có Mexico, cùng một số quốc gia Đông Âu vẫn duy trì hoạt động và tiếp tục phát huy giá trị.
Bên cạnh những lợi thế truyền thống, quá trình chuyển đổi số cũng đang mở ra cơ hội mới cho y học cổ truyền Việt Nam. Theo ông Luật, việc tích hợp dữ liệu, số hóa các bài thuốc, phương pháp điều trị và hồ sơ bệnh án sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời tạo nền tảng cho việc phát triển y học thực chứng.
Tuy nhiên, Phó Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương cho rằng, yếu tố then chốt để y học cổ truyền Việt Nam có thể cạnh tranh và khẳng định vị thế trên trường quốc tế chính là các bằng chứng khoa học.
“Muốn đưa y học cổ truyền Việt Nam vươn tầm thế giới, chúng ta phải có những nghiên cứu khoa học bài bản, đầu tư cho các trung tâm kiểm nghiệm hiện đại và xây dựng được các minh chứng thực chứng có giá trị quốc tế”, bác sĩ Nguyễn Duy Luật nhấn mạnh.
Mạng lưới Đông y rộng khắp là nền tảng để Hà Nội phát triển kinh tế sức khỏe
Theo ông Chu Hải Đăng, Hà Nội đang sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để phát huy vai trò tiên phong trong lĩnh vực kinh tế sức khoẻ. Hệ thống Hội Đông y Việt Nam hiện được tổ chức từ Trung ương đến địa phương.

Riêng Hội Đông y thành phố Hà Nội hiện có 110 đơn vị trực thuộc với tổng số hơn 5.000 hội viên cùng khoảng 340 phòng khám chuyên thực hiện công tác khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền. Đây là mạng lưới rộng khắp, tạo điều kiện thuận lợi để đưa lĩnh vực này đến gần hơn với người dân.
Ông Đăng cho biết thêm, trong số các phòng khám hiện nay có những cơ sở hoạt động theo phương pháp y học cổ truyền, đồng thời cũng có những cơ sở kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại trong quá trình khám, chữa bệnh. Tuy nhiên, phần lớn các phòng khám Đông y vẫn lấy y học cổ truyền làm nền tảng chủ đạo, chiếm khoảng 80% hoạt động chuyên môn, đặc biệt là các phương pháp như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt và các kỹ thuật điều trị không dùng thuốc.
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công tác khám, chữa bệnh, đội ngũ thầy thuốc y học cổ truyền hiện nay phải thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn theo quy định của Bộ Y tế. Việc đào tạo, bồi dưỡng liên tục không chỉ giúp nâng cao trình độ chuyên môn mà còn tạo điều kiện để kết hợp hiệu quả giữa y học cổ truyền và y học hiện đại trong điều trị một số bệnh lý.
Đánh giá về tiềm năng phát triển kinh tế sức khỏe của Thủ đô, ông nhấn mạnh ba lợi thế nổi bật.
Thứ nhất, Hà Nội có mạng lưới y học cổ truyền rộng khắp và gần dân.
Thứ hai, Hà Nội có nhu cầu rất lớn về chăm sóc sức khỏe. Hiện nay, người dân không chỉ quan tâm đến việc chữa bệnh mà còn chú trọng phòng bệnh, phục hồi sức khỏe, nâng cao thể trạng, cải thiện sức khỏe tinh thần và chất lượng cuộc sống. Đây chính là môi trường thuận lợi để y học cổ truyền phát huy vai trò, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện của người dân.
Thứ ba, Hà Nội có điều kiện thuận lợi để hình thành hệ sinh thái phát triển y học cổ truyền. Thủ đô có hệ thống y tế, đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, truyền thông, du lịch và cộng đồng doanh nghiệp phong phú. Nếu các nguồn lực này được kết nối hiệu quả, y học cổ truyền không chỉ phát huy giá trị chuyên môn mà còn tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có giá trị kinh tế cao.
Tuy nhiên, theo ông Chu Hải Đăng, để y học cổ truyền thực sự trở thành một lĩnh vực của kinh tế sức khỏe thì phải gắn với quá trình chuẩn hóa chất lượng dịch vụ, bảo đảm an toàn, nâng cao y đức, trình độ chuyên môn và năng lực nghề nghiệp của đội ngũ thầy thuốc.
Y học cổ truyền Việt Nam đang bắt nhịp với các tiêu chuẩn quốc tế

Y học cổ truyền Việt Nam hiện sở hữu nhiều lợi thế riêng, trong đó nổi bật nhất là các phương pháp điều trị không dùng thuốc, hệ thống khám chữa bệnh được tích hợp trong mạng lưới y tế chính thống và kho tàng bài thuốc cổ truyền phong phú. Đây là nhận định của Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Luật, Phó Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương khi chia sẻ về những lĩnh vực mà y học cổ truyền Việt Nam đang có thế mạnh nổi bật hiện nay.
Từ thực tiễn điều trị, Phó Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương cho rằng một trong những thế mạnh nổi bật nhất của Việt Nam là các phương pháp điều trị không dùng thuốc. Đây là lĩnh vực đã có nhiều bước phát triển, phát huy hiệu quả trong điều trị, phục hồi chức năng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Bên cạnh đó, y học cổ truyền Việt Nam còn có ưu thế khi được tích hợp vào hệ thống y tế chính thống. Khác với nhiều quốc gia, các phương pháp y học cổ truyền ở Việt Nam được triển khai song song với y học hiện đại trong hệ thống bệnh viện từ trung ương đến địa phương. Điều này giúp người bệnh được tiếp cận đồng thời các phương pháp điều trị phù hợp, tạo điều kiện để nền y học dân tộc phát triển bền vững.
Định hướng phát triển của y học cổ truyền Việt Nam cũng đang bắt nhịp với các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là yêu cầu của Tổ chức Y tế Thế giới về xây dựng các bằng chứng khoa học trong khám chữa bệnh.
“Muốn phát triển bền vững, y học cổ truyền phải có các minh chứng khoa học rõ ràng, được nghiên cứu và đánh giá một cách bài bản”, bác sĩ Nguyễn Duy Luật nhấn mạnh.
Một lĩnh vực khác được vị chuyên gia đánh giá là thế mạnh của Việt Nam chính là nguồn dược liệu và kho tàng bài thuốc cổ truyền phong phú được tích lũy qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, đây cũng là thách thức nếu không được bảo tồn và phát huy đúng cách.
Việc chuẩn hóa nguồn dược liệu là yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng điều trị, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường trong nước và quốc tế. Cùng với đó, các bài thuốc cổ truyền cần được số hóa, lưu trữ và tích hợp vào hệ thống dữ liệu để tránh nguy cơ mai một theo thời gian.
Phó Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương cho rằng quá trình hiện đại hóa không đồng nghĩa với việc đánh mất bản sắc. Ngược lại, việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và chuẩn hóa chuyên môn phải đi đôi với gìn giữ những giá trị cốt lõi của nền y học dân tộc.
Kết hợp y học cổ truyền và hiện đại để phát huy hiệu quả điều trị

Tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, bác sĩ Đỗ Gia Quý, Trưởng khoa Đột quỵ cho biết, mô hình kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại đang được áp dụng hiệu quả trong điều trị nhiều nhóm bệnh khác nhau. Trong đó, nổi bật nhất là ba nhóm bệnh chính.
Thứ nhất là nhóm bệnh về cơ xương khớp. Đây là nhóm bệnh chiếm tỷ lệ lớn với các trường hợp thoái hóa cột sống cổ, thoái hóa cột sống thắt lưng, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Ngoài ra còn có các bệnh lý về khớp vai, khớp gối và thoái hóa khớp gối.
Nhóm bệnh thứ hai là các bệnh lý thần kinh, trong đó nổi bật là đột quỵ não. Những năm gần đây, số lượng bệnh nhân đột quỵ có xu hướng gia tăng. Bên cạnh đó, bệnh viện cũng tiếp nhận nhiều trường hợp chấn thương sọ não đến điều trị và phục hồi chức năng.
Nhóm bệnh thứ ba là các bệnh lý tâm thần. Ở người lớn thường gặp các trường hợp rối loạn giấc ngủ, rối loạn lo âu. Đối với trẻ em, bệnh phổ biến là rối loạn phổ tự kỷ. Đây là những bệnh lý có xu hướng gia tăng trong thời gian gần đây. Ngoài ra, bệnh viện còn tiếp nhận điều trị nhiều bệnh nhân mắc các rối loạn chuyển hóa như đái tháo đường, bệnh gút và tăng lipid máu bằng phương pháp kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại.
Về các kỹ thuật chuyên sâu đang được triển khai, bác sĩ Đỗ Gia Quý cho biết, bệnh viện áp dụng đồng thời nhiều phương pháp điều trị không dùng thuốc và dùng thuốc. Trong đó có các phương pháp châm cứu kết hợp thuốc y học cổ truyền, thuốc y học hiện đại, vật lý trị liệu và phục hồi chức năng nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho người bệnh.
Đối với lĩnh vực châm cứu, bệnh viện đang triển khai nhiều kỹ thuật chuyên sâu như điện châm, thủy châm, châm bằng kim dài, kim lớn xuyên kinh qua nhiều huyệt, còn gọi là kỹ thuật đại trường châm. Bên cạnh đó là các phương pháp phục chỉnh, xoa bóp bấm huyệt và tập vận động phục hồi chức năng.
Về ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số, bác sĩ Quý cho biết y học cổ truyền đang từng bước tiếp cận mạnh mẽ với các thành tựu công nghệ hiện đại. Theo đó, trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ bác sĩ trong quá trình chẩn đoán bệnh thông qua các phương pháp đặc trưng của y học cổ truyền như bắt mạch, quan sát lưỡi và vọng chẩn, từ đó góp phần nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán, xây dựng phác đồ điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân.
Hiện, Bệnh viện đã tổ chức nhiều khóa đào tạo cho học viên quốc tế và triển khai các trung tâm điều trị bằng châm cứu, y học cổ truyền tại nước ngoài. Đây là những nền tảng quan trọng để y học cổ truyền Việt Nam tiếp tục phát triển, hội nhập quốc tế và phát huy hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Sức khỏe tiến triển tốt nhờ y học cổ truyền
Bệnh nhân Nguyễn Văn Khánh, phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai bị đột quỵ, không nói được và bị liệt nửa người, điều trị 1 tháng tại Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Châm cứu Trung ương, cho biết: "Trong quá trình điều trị, các bác sĩ đã áp dụng những phương pháp châm cứu kết hợp các biện pháp phục hồi chức năng. Sau một tháng điều trị, sức khỏe của tôi đã tiến triển rất tốt. Hiện nay tôi đã có thể nói chuyện, đi lại được và cảm nhận sức khỏe đã phục hồi khoảng 95% so với trước đây.

Giữ gìn và trao truyền giá trị

Ông Chu Hải Đăng, Phó Chủ tịch Hội Đông y thành phố Hà Nội cho rằng, để y học cổ truyền phát triển bền vững, yếu tố quan trọng nhất là xây dựng được đội ngũ kế cận đủ tâm huyết, trí tuệ và năng lực để tiếp nối, gìn giữ những kinh nghiệm quý, bài thuốc gia truyền của các thế hệ đi trước.
Hiện nay, nhiều bài thuốc và kinh nghiệm chữa bệnh quý vẫn đang được lưu giữ trong đội ngũ lương y trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, nếu không được chuẩn hóa, số hóa và lưu trữ một cách bài bản thì những tri thức này có nguy cơ mai một hoặc thất truyền. Thực tế, nhiều kinh nghiệm vẫn chủ yếu được ghi chép đơn giản hoặc truyền miệng trong gia đình, chưa hình thành hệ thống dữ liệu đầy đủ để bảo tồn lâu dài.
Ông Chu Hải Đăng nhận định, y học cổ truyền là lĩnh vực đòi hỏi thời gian tích lũy lâu dài, từ kiến thức chuyên môn đến kinh nghiệm thực tiễn. Người học không chỉ tiếp thu lý thuyết mà còn phải được đào tạo lâm sàng, nhận biết và sử dụng dược liệu, nắm vững phương pháp điều trị, y đức và kỹ năng nghề nghiệp. Trong khi đó, nhiều người trẻ hiện nay có xu hướng lựa chọn những ngành nghề mang lại kết quả nhanh và cơ hội phát triển sớm, khiến y học cổ truyền chưa thực sự hấp dẫn.
Bên cạnh đó, cơ chế thu hút nhân lực, môi trường thực hành và điều kiện phát triển nghề nghiệp trong lĩnh vực y học cổ truyền còn hạn chế. Công tác truyền nghề cũng chưa được tổ chức bài bản, việc kết nối giữa các lương y giàu kinh nghiệm với thế hệ trẻ, cũng như hoạt động ghi chép, số hóa và chuyển giao tri thức chưa thường xuyên, chưa hình thành một hệ thống đồng bộ.
Ông Chu Hải Đăng cũng cho rằng, nhiều bài thuốc dân gian, bài thuốc của đồng bào dân tộc đã được kiểm chứng qua thực tiễn và mang lại hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe. Nếu không có lực lượng kế cận tiếp nhận và phát huy, những giá trị này sẽ dần bị mất đi.
Thời gian tới, Hội Đông y thành phố Hà Nội xác định tiếp tục chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, kế thừa và truyền nghề; đồng thời khuyến khích, tạo điều kiện để lớp trẻ tham gia vào lĩnh vực y học cổ truyền. Theo ông Chu Hải Đăng, đây không chỉ là nhiệm vụ gìn giữ di sản của dân tộc mà còn mở ra hướng phát triển lâu dài, góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tương lai.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ban hành Chiến lược y học cổ truyền toàn cầu giai đoạn 2025-2034 với 4 định hướng chiến lược chính, gồm: Xây dựng bằng chứng khoa học cho y học cổ truyền; tích hợp vào hệ thống y tế và khung pháp lý; bảo đảm chất lượng, an toàn; tăng cường liên kết ngành nghề, đồng thời, bảo tồn tri thức truyền thống gắn với đa dạng sinh học.
Theo Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Luật, trước những yêu cầu đó, Việt Nam cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết là chuyển từ kinh nghiệm sang bằng chứng khoa học, đẩy mạnh nghiên cứu y học để chứng minh hiệu quả của các phương pháp điều trị. Việc thành lập các trung tâm thử nghiệm lâm sàng, chuẩn hóa nhiều bài thuốc và bảo đảm an toàn trong kiểm nghiệm là hướng đi cần thiết.

Bên cạnh đó, dù Việt Nam có nguồn dược liệu phong phú, song, việc khai thác và chiết xuất còn hạn chế. Bộ Y tế và Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền đang đặt ra yêu cầu chuẩn hóa nguồn dược liệu, từ nuôi trồng, thu hái đến chế biến, sử dụng.
Về đào tạo, hệ thống giáo dục y học cổ truyền trong nước đã phát triển với nhiều cấp độ, từ bác sĩ, thạc sĩ đến chuyên khoa I, chuyên khoa II, tiêu biểu như Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Ngoài ra, y học cổ truyền Việt Nam đã được đưa vào hệ thống bảo hiểm y tế, đồng thời, có sự phối hợp với các doanh nghiệp dược trong nghiên cứu, sản xuất và phân phối sản phẩm.
Trong định hướng phát triển, Việt Nam có thể tham khảo mô hình của một số quốc gia, như Trung Quốc; đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm và công bố các công trình nghiên cứu trên các tạp chí quốc tế. Đặc biệt, cần chú trọng phát triển du lịch chữa bệnh, khai thác các phương pháp điều trị không dùng thuốc, kết hợp với các giá trị văn hóa truyền thống.
“Đây không chỉ là hướng đi giúp nâng cao giá trị của y học cổ truyền, mà còn góp phần xây dựng thương hiệu quốc gia, gắn với phát triển du lịch và kinh tế sức khỏe”, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Luật nhấn mạnh.
Đẩy mạnh số hóa tri thức y học cổ truyền

Theo ông Chu Hải Đăng, chuyển đổi số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị y học cổ truyền. Tuy nhiên, hiện nay việc ứng dụng chuyển đổi số vẫn gặp nhiều khó khăn do công tác ghi chép, lưu trữ dữ liệu về các bài thuốc gia truyền chưa đầy đủ và thiếu tính hệ thống.
Nhiều bài thuốc gia truyền có hiệu quả trong điều trị nhưng người nắm giữ chưa tổng hợp được số liệu cụ thể về quá trình khám chữa bệnh như số lượng người được điều trị, tỷ lệ khỏi bệnh, cải thiện hay không đáp ứng điều trị. Việc thiếu dữ liệu khiến giá trị của các bài thuốc khó được chứng minh và đánh giá một cách khoa học.
Để khắc phục tình trạng này, ông đề xuất trước hết cần sưu tầm, ghi chép đầy đủ các bài thuốc, cây thuốc và kinh nghiệm chữa bệnh. Quá trình này cần có sự tham gia của các lương y, thầy thuốc để đánh giá hiệu quả điều trị, mức độ an toàn, tính phù hợp cũng như khả năng ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Bên cạnh đó, các bài thuốc kinh nghiệm cần được thẩm định và tích lũy qua thời gian trước khi phổ biến rộng rãi. Tri thức y học cổ truyền là kết quả của quá trình đúc kết lâu dài nên cần được nghiên cứu, kiểm chứng một cách bài bản.
Ông Chu Hải Đăng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu số về bài thuốc gia truyền, cây thuốc, các lương y tiêu biểu và những kinh nghiệm điều trị quý. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để bảo tồn lâu dài tri thức y học cổ truyền của Hà Nội, đồng thời tạo điều kiện cho việc khai thác và phát huy giá trị trong thực tiễn.
Cùng với đó, việc số hóa phải gắn với bảo vệ bí quyết nghề nghiệp, quyền lợi hợp pháp và quyền sở hữu tri thức của những người đang lưu giữ các bài thuốc, kinh nghiệm quý. Chỉ khi quyền lợi của người nắm giữ tri thức được bảo đảm thì họ mới sẵn sàng chia sẻ và tham gia vào quá trình bảo tồn.
Ông Chu Hải Đăng cũng cho rằng tri thức y học cổ truyền chỉ có thể được duy trì khi có đội ngũ kế cận tiếp nhận và phát huy. Vì vậy, cần tăng cường kết nối giữa các lương y giàu kinh nghiệm với thế hệ trẻ thông qua các lớp tập huấn, hội thảo, tọa đàm chuyên môn và hoạt động truyền nghề. Mục tiêu là giúp tri thức được trao truyền có trách nhiệm, tránh thất truyền, thương mại hóa hoặc sai lệch, đồng thời tiếp tục phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân một cách an toàn, khoa học và phù hợp với đời sống hiện nay.
Để hiện thực hóa mục tiêu đưa y học cổ truyền trở thành sức mạnh mềm quốc gia trong 5 năm tới, các chuyên gia nhận định cần có những bước đi chiến lược mang tính đột phá, chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy quản lý đến hành động thực tiễn.
Theo Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Duy Luật, ưu tiên hàng đầu hiện nay là sự chuyển dịch từ quản lý chuyên môn y tế thuần túy sang phát triển một hệ sinh thái y học cổ truyền quốc gia. Trong đó, yếu tố then chốt là việc ứng dụng và chứng minh giá trị của y học cổ truyền thông qua các bằng chứng khoa học.

Chỉ khi có những nghiên cứu cụ thể và sự chuyển đổi bài bản, chúng ta mới củng cố được niềm tin của người dân, đồng thời, tạo tiền đề vững chắc để đưa y học cổ truyền ra thị trường quốc tế. Đặc biệt, việc kết hợp giữa y học cổ truyền và du lịch y tế được kỳ vọng sẽ tạo ra một ngành du lịch đặc thù, góp phần nâng tầm vị thế của Việt Nam.
Đồng quan điểm về việc xây dựng hệ sinh thái, ông Chu Hải Đăng nhấn mạnh định hướng “chuẩn hóa và hiện đại hóa” nhưng vẫn phải giữ trọn bản sắc tri thức của dân tộc.
Ông Chu Hải Đăng khẳng định, để trở thành sức mạnh mềm, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở việc ca ngợi các bài thuốc hay, hay cây thuốc quý truyền thống, mà quan trọng là phải làm cho những giá trị ấy được nhận diện rõ ràng, kiểm chứng, bảo tồn và số hóa. Bên cạnh đó, các giá trị này cần được truyền thông đúng cách và ứng dụng an toàn trong đời sống hằng ngày của người dân.
Hệ sinh thái này đòi hỏi một mạng lưới kết nối chặt chẽ giữa các thành phần: Từ thầy thuốc, lương y, nhà khoa học, cơ sở đào tạo đến các bệnh viện, doanh nghiệp dược liệu và cơ quan quản lý. Mỗi thành viên dù đóng vai trò khác nhau nhưng cần chung một chí hướng để phát huy giá trị tinh hoa, chăm sóc sức khỏe nhân dân và phát triển thương hiệu y học cổ truyền Việt Nam.
“Riêng tại Thủ đô, Hội Đông y thành phố Hà Nội đang hiện thực hóa mục tiêu này bằng các hành động cụ thể như: Xây dựng cơ sở dữ liệu, bảo tồn bài thuốc và cây thuốc quý, đồng thời, tích cực chăm sóc sức khỏe cộng đồng bằng dược liệu an toàn nhằm từng bước khẳng định mạnh mẽ thương hiệu Đông y Hà Nội”, ông Chu Hải Đăng nhấn mạnh.

(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.