Sáng 19-8, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở Tổ về định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất); việc tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành 1 chương trình mục tiêu quốc gia.

Thảo luận tại Tổ Hà Nội, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà đề xuất bổ sung các cơ chế đặc thù nhằm bảo đảm việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 đồng bộ với các quy định của Luật Thủ đô năm 2026; đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và chất lượng thụ hưởng của người dân.
Qua đối chiếu dự thảo lần 5 Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình với các quy định đặc thù tại Luật Thủ đô số 02/2026/QH16, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà đề xuất 3 nhóm vấn đề nhằm nâng cao tính khả thi, đồng bộ và hiệu quả của các chính sách.

Thứ nhất, về cơ chế lồng ghép nguồn lực và phân cấp đầu tư theo mô hình liên kết vùng Thủ đô, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cho rằng Dự thảo Nghị quyết đã quy định nguyên tắc lồng ghép nguồn vốn giữa các chương trình, dự án trên cùng địa bàn, đồng thời phân cấp để địa phương chủ động lựa chọn danh mục, phân bổ chi tiết.
“Tuy nhiên, cách tiếp cận này vẫn chủ yếu giới hạn trong phạm vi địa giới hành chính của từng tỉnh, thành phố, trong khi nhiều vấn đề phát triển đòi hỏi sự liên kết giữa các địa phương, nhất là tại Vùng Thủ đô”, đại biểu nêu.
Theo đại biểu, Luật Thủ đô năm 2026 xác định Hà Nội là hạt nhân, cực tăng trưởng và trung tâm kết nối phát triển của Vùng Thủ đô cùng các vùng phụ cận. Luật cũng cho phép các địa phương trong Vùng Thủ đô sử dụng ngân sách địa phương để đầu tư trực tiếp vào các dự án liên kết vùng trên địa bàn địa phương khác, nhằm giải quyết những vấn đề dùng chung như hạ tầng giao thông, môi trường, nguồn nước.
Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định mở vào Dự thảo Nghị quyết, theo hướng cho phép các địa phương thuộc Vùng Thủ đô và các vùng liên kết được lồng ghép nguồn vốn ngân sách trung ương, ngân sách địa phương của Chương trình vào các dự án liên kết vùng hoặc Quỹ Phát triển vùng.

Thứ hai, đại biểu đề xuất thúc đẩy cơ chế hợp tác công - tư và xã hội hóa trong quản lý, vận hành các thiết chế văn hóa, công nghiệp văn hóa. Đại biểu cho rằng, Luật Thủ đô năm 2026 đã có những cơ chế có thể nghiên cứu, vận dụng. Cụ thể, Luật cho phép áp dụng cơ chế hợp tác công - tư trong quản lý, khai thác, sử dụng các công trình kiến trúc có giá trị; đồng thời cho phép chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác, cho thuê quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng và công trình công cộng.
Trên cơ sở đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Dự thảo Nghị quyết cơ chế đặc thù hoặc cho phép thí điểm trên phạm vi cả nước cơ chế tương tự Luật Thủ đô năm 2026. Theo đó, các địa phương có thể thực hiện xã hội hóa bằng cách chuyển nhượng có thời hạn hoặc cho thuê quyền khai thác các thiết chế văn hóa, thể thao công cộng được xây dựng từ nguồn vốn của chương trình cho doanh nghiệp, hợp tác xã có năng lực quản trị.
Thứ ba, đại biểu đề xuất linh hoạt hóa định mức chi hỗ trợ an sinh xã hội, y tế, giáo dục, gắn với quyền tự quyết định mức chi cao hơn của chính quyền đô thị đặc biệt. Theo đại biểu, Dự thảo Nghị quyết và dự kiến Nghị quyết của Chính phủ quy định khá chi tiết các khung tiêu chí, định mức chi và mức hỗ trợ trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và an sinh xã hội. Các định mức này được xây dựng để áp dụng chung trên phạm vi cả nước.

Trong khi đó, đại biểu Huỳnh Quyết Thắng (Đoàn Hà Nội) đề nghị siết cơ chế giám sát khi tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia. Đại biểu bày tỏ đồng tình, đánh giá cao chủ trương này, đồng thời đề nghị hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn lực, giám sát và cảnh báo rủi ro để bảo đảm các mục tiêu, nhất là đối với nhóm yếu thế, không bị giảm mức độ ưu tiên sau khi tích hợp.
Về giới hạn thẩm quyền và cơ chế kiểm soát, đại biểu Huỳnh Quyết Thắng ghi nhận dự thảo đã có một số cơ chế, như trường hợp mở rộng cơ chế đặc thù sang nhóm, lĩnh vực khác vượt thẩm quyền của Chính phủ, phải báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng chưa có cơ chế báo cáo định kỳ hằng năm với Quốc hội về việc mức độ ưu tiên và nguồn lực dành cho từng nhóm đối tượng có được duy trì đúng cam kết hay không. Hiện mới dự kiến có báo cáo giữa kỳ vào đầu năm 2030 và báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại kỳ họp gần nhất sau khi Nghị quyết của Chính phủ được ban hành.
"Đây là khoảng trống cần được nghiên cứu để bảo đảm việc tích hợp không dẫn đến tình trạng một số mục tiêu, nhóm đối tượng bị giảm nguồn lực trong quá trình thực hiện", đại biểu nêu quan điểm.
Đại biểu Huỳnh Quyết Thắng đặc biệt lưu ý vấn đề công bằng giáo dục và nguyên tắc "không để trẻ em nào bị bỏ lại phía sau". Theo đại biểu, yêu cầu đặt ra là phải theo dõi công bằng giáo dục giữa các vùng, nhóm dân cư và nhóm yếu thế; nơi nào khó khăn hơn phải được hỗ trợ nhiều hơn, đồng thời giáo viên công tác tại vùng khó khăn cần có chính sách đãi ngộ phù hợp.

Thảo luận tại Tổ Hà Nội, đại biểu Nguyễn Ngọc Việt bày tỏ đồng tình với chủ trương tích hợp 4 chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời đề nghị quá trình xây dựng chương trình mới phải tránh cộng cơ học, giao thoa, chồng chéo; thực hiện mạnh mẽ phân cấp theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Theo đại biểu, việc tích hợp sẽ góp phần giảm đầu mối trung gian, hạn chế cơ chế xin - cho, đổi mới phương thức quản lý và đánh giá hiệu quả dựa trên kết quả đầu ra. Đây là hướng đi thiết thực, phù hợp yêu cầu phát triển.
Tuy nhiên, để chương trình mới nhanh chóng đi vào cuộc sống, cơ quan soạn thảo cần bổ sung, cập nhật các tiêu chí theo chủ trương của Đảng và những mô hình địa phương đang triển khai, thí điểm, trong đó có xây dựng nông thôn mới gắn với mô hình “Xã xã hội chủ nghĩa”.
Một vấn đề khác được đại biểu lưu ý là chính sách khám sức khỏe toàn dân. Đại biểu cho rằng chủ trương mỗi người dân được khám sức khỏe định kỳ, đồng thời xây dựng và quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử là rất đúng đắn. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần tránh cách làm mang tính phong trào, bảo đảm nguồn lực được sử dụng thực chất.
Do đó, đại biểu đề nghị cần xây dựng rõ tiêu chuẩn, định mức và nội dung chuyên môn đối với các gói khám sức khỏe, bảo đảm việc khám không chỉ dừng ở những chỉ số cơ bản mà thực sự giúp phát hiện, quản lý và phòng ngừa các vấn đề sức khỏe của người dân.

Tập trung vào Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển, đại biểu Trần Thị Nhị Hà (Đoàn Hà Nội) cho rằng, đây là lĩnh vực tác động trực tiếp đến người dân, công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế, chăm sóc các nhóm yếu thế, chất lượng dân số và an sinh xã hội.
Đại biểu Trần Thị Nhị Hà đề nghị đánh giá kỹ tính khả thi của các chỉ tiêu y tế, dân số được đặt ra trong chương trình. Theo hồ sơ, chương trình đặt ra nhiều mục tiêu cao đến năm 2030 và 2035, như 100% người dân được lập sổ sức khỏe điện tử và quản lý sức khỏe suốt vòng đời từ năm 2030; 100% trung tâm kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh đủ năng lực xét nghiệm các tác nhân, kháng nguyên, kháng thể của các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, chất lượng nước sạch, vệ sinh môi trường…
Đại biểu đánh giá đây là những chỉ tiêu cao, thể hiện sự quan tâm của Quốc hội và Chính phủ đối với công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tuy nhiên, để các chỉ tiêu đạt được thực chất, cần bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật.
Đối với mục tiêu 100% người dân có sổ sức khỏe điện tử, đại biểu cho rằng không thể chỉ đầu tư phần mềm mà phải xây dựng hệ thống dữ liệu sạch, liên thông giữa các tuyến, các cấp khám, chữa bệnh, đặc biệt giữa cơ sở khám, chữa bệnh tuyến trung ương và địa phương.
Cùng với chuẩn hóa dữ liệu, cần có cơ chế cập nhật thường xuyên, bảo mật thông tin và bố trí đủ nhân lực. Nếu chỉ đầu tư nền tảng công nghệ nhưng trạm y tế thiếu người, thiếu kỹ năng số và thiếu thời gian thực hiện thì mục tiêu sẽ khó đạt hiệu quả.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.