Chính phủ đề xuất đầu tư công 3 tuyến cao tốc: Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên, Bảo Hà - Lai Châu và Quảng Ngãi - Kon Tum, với tổng chiều dài khoảng 430,5km, sơ bộ tổng mức đầu tư 162.393 tỷ đồng.
Sáng 7-11, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về chủ trương đầu tư 3 dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc: Bảo Hà - Lai Châu, đoạn Bảo Hà - Tân Phong; Quảng Ngãi - Kon Tum; Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên, địa phận tỉnh Sơn La.

Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết, ngày 6-11-2026, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư 3 dự án đường bộ cao tốc, gồm: Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên dài khoảng 179,5km; Bảo Hà - Lai Châu dài 119km và Quảng Ngãi - Kon Tum dài 132km.
Theo Chính phủ, việc đầu tư các tuyến cao tốc này nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông; đáp ứng nhu cầu vận tải, hoàn thiện mạng lưới đường bộ cao tốc quốc gia, tăng cường liên kết vùng, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa phương, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Hiện các tuyến quốc lộ kết nối những địa phương trên với trung tâm kinh tế vùng có quy mô nhỏ, tiêu chuẩn thấp, thường xuyên sạt lở vào mùa mưa lũ. Khi có đường cao tốc, thời gian di chuyển dự kiến rút ngắn khoảng 50-60% so với đi trên quốc lộ.
Đáng chú ý, tuyến Bảo Hà - Lai Châu góp phần bảo đảm hệ thống đường cao tốc bao phủ 34/34 địa phương; tuyến Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên kết nối các đoạn cao tốc liền kề, còn tuyến Quảng Ngãi - Kon Tum hình thành trục giao thông Đông - Tây, kết nối Tây Nguyên với hệ thống cảng biển phía Đông.
Cả 3 dự án được đề xuất đầu tư quy mô 4 làn xe cao tốc theo quy hoạch, tốc độ thiết kế 80-100km/h. Tổng diện tích đất dự kiến chiếm dụng khoảng 4.583ha, trong đó diện tích đề xuất chuyển đổi mục đích sử dụng rừng khoảng 1.155ha; chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khoảng 19.056 tỷ đồng.
Về hình thức đầu tư, Chính phủ đã nghiên cứu phương án đối tác công tư (PPP), loại hợp đồng BOT. Tuy nhiên, ngay cả khi vốn nhà nước hỗ trợ khoảng 50-70% sơ bộ tổng mức đầu tư, các dự án vẫn không xác định được thời gian hoàn vốn. Do đó, Chính phủ đề xuất thực hiện theo hình thức đầu tư công.
Sơ bộ tổng mức đầu tư 3 dự án khoảng 162.393 tỷ đồng, gồm ngân sách trung ương khoảng 158.342 tỷ đồng và ngân sách địa phương khoảng 4.051 tỷ đồng. Chính phủ dự kiến bố trí khoảng 119.398 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương trong giai đoạn 2026-2030, bảo đảm đủ vốn để cơ bản hoàn thành các dự án vào năm 2030.

Theo tiến độ dự kiến, các dự án được chuẩn bị đầu tư trong giai đoạn 2026-2027; thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và khởi công xây dựng năm 2027; cơ bản hoàn thành năm 2030, đưa vào khai thác năm 2031. Ba dự án dự kiến được phân chia thành 14 dự án thành phần.
Đáng chú ý, Chính phủ đề xuất áp dụng 5 nhóm cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt tương tự các dự án quan trọng quốc gia đã được Quốc hội chấp thuận, gồm: Thẩm quyền điều chỉnh chủ trương đầu tư; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; chỉ định thầu; điều chỉnh quy hoạch và bãi đổ chất thải rắn xây dựng.
Theo đánh giá sơ bộ, cả 3 dự án đều đạt hiệu quả kinh tế - xã hội, với giá trị hiện tại ròng kinh tế lớn hơn 0, tỷ suất nội hoàn kinh tế lớn hơn 10% và tỷ số lợi ích/chi phí lớn hơn 1. Các tuyến cao tốc cũng góp phần tăng cường năng lực cơ động, cứu hộ, cứu nạn, ứng phó thiên tai và bảo vệ vững chắc biên giới quốc gia.
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban cơ bản nhất trí đầu tư 3 dự án cao tốc này theo hình thức đầu tư công; đồng thời đề nghị Chính phủ rà soát quy hoạch, tiêu chuẩn kỹ thuật, phương án giải phóng mặt bằng và khả năng cân đối nguồn vốn.
Các dự án cơ bản phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, có ý nghĩa quan trọng trong kết nối liên vùng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Tuy nhiên, do đặc thù hướng tuyến kéo dài qua địa hình miền núi phức tạp, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ chỉ đạo rà soát, xử lý những nội dung còn mâu thuẫn, chồng chéo, chồng lấn quy hoạch tại từng dự án.
Cụ thể, dự án cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum có chiều dài 132km, cắt qua 6 vị trí quy hoạch khai thác khoáng sản nhóm 3, nhóm 4. Vì vậy, cần làm rõ mức độ chồng lấn và có phương án xử lý tài sản khoáng sản phù hợp.
Dự án Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên dài 179,5km, ảnh hưởng trực tiếp đến quy hoạch hạ tầng năng lượng, đi qua khu vực quy hoạch 4 nhà máy điện mặt trời và các quy hoạch thủy điện 5M1, 5M2. Ủy ban đề nghị rà soát kỹ tọa độ thiết kế, bảo đảm an toàn vận hành lưới điện và hồ chứa.
Đối với dự án Bảo Hà - Lai Châu, cần làm rõ lộ trình đầu tư toàn tuyến đến cửa khẩu Ma Lù Thàng, bảo đảm tính đồng bộ với tuyến cao tốc CT12 và quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp; đồng thời có giải pháp xử lý phạm vi chồng lấn với ranh giới mỏ quặng sắt Đông Nam Làng Lớ đã được cấp phép và khu vực quy hoạch thăm dò, khai thác tại Tân An.
Về hình thức đầu tư, Ủy ban Kinh tế và Tài chính thống nhất thực hiện cả 3 dự án theo hình thức đầu tư công. Kết quả tính toán sơ bộ cho thấy, phương án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, loại hợp đồng BOT, không bảo đảm tính khả thi về tài chính do thời gian hoàn vốn quá dài hoặc không xác định được. Trong khi đó, các dự án đều nằm ở khu vực miền núi đặc biệt khó khăn, có ý nghĩa quan trọng về quốc phòng, an ninh và kết nối với các tuyến liền kề đang được triển khai bằng nguồn vốn đầu tư công.
Về quy mô, cả 3 dự án được đề xuất đầu tư với quy mô 4 làn xe cao tốc hoàn chỉnh. Tuy nhiên, tiêu chuẩn thiết kế có sự khác biệt: Cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum và Bảo Hà - Lai Châu có tốc độ thiết kế 80-100km/h; cao tốc Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên có tốc độ thiết kế 80km/h. Do đó, một số ý kiến đề nghị nghiên cứu phương án tốc độ thiết kế 100km/h đối với các dự án nhằm bảo đảm tầm nhìn dài hạn.

Đáng chú ý, cả 3 dự án có tổng nhu cầu chiếm dụng đất khoảng 4.630ha, ảnh hưởng trực tiếp đến 7.180 hộ dân, trong đó 1.830 hộ phải tái định cư tập trung. Diện tích rừng dự kiến chuyển mục đích sử dụng là 1.155ha, trong đó có 759ha rừng tự nhiên.
Do các tuyến đường đi qua địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những khu vực sinh thái đầu nguồn nhạy cảm, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát chặt chẽ phương án thiết kế, tăng cường giải pháp cầu cạn, hầm xuyên núi để giảm tối đa việc xâm phạm rừng tự nhiên, rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng đặc dụng; đồng thời thực hiện đầy đủ kinh phí và quỹ đất trồng rừng thay thế theo quy định.
Về sơ bộ tổng mức đầu tư, cơ cấu nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, theo báo cáo được nêu tại phiên họp, tổng mức đầu tư sơ bộ của 3 dự án là 164.032 tỷ đồng. Nhu cầu vốn ngân sách trung ương dự kiến bố trí trong giai đoạn 2026-2030 khoảng 119.398 tỷ đồng.
Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhận định, tiến độ giải ngân sẽ chịu áp lực lớn, tập trung vào những năm cuối giai đoạn 2026-2030 và năm 2031, tiềm ẩn rủi ro kéo dài thời gian hoàn thành dự án sang kỳ đầu tư công trung hạn 2031-2035. Vì thế, Ủy ban đề nghị Chính phủ làm rõ phương án bù đắp phần vốn còn thiếu này.
Đối với các cơ chế, chính sách đặc thù, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với việc đề xuất áp dụng để bảo đảm tiến độ triển khai các dự án, trên cơ sở những chính sách đã được Quốc hội cho phép áp dụng đối với một số dự án tương tự.
Tuy nhiên, Chính phủ cần tiếp tục rà soát, đánh giá sự cần thiết và tính khả thi của từng cơ chế, chính sách; xác định rõ phạm vi áp dụng, thẩm quyền quyết định, trách nhiệm tổ chức thực hiện và cơ chế kiểm tra, giám sát, bảo đảm công khai, minh bạch, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, thất thoát, lãng phí.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.