Y tế

Đề án 1816: Đưa kỹ thuật tuyến cuối về gần người bệnh

Thái Phương - Mộc Miên • 02/11/2026 - 18:28

Từ những chuyến công tác “cầm tay chỉ việc” theo Đề án 1816 đến hội chẩn, hỗ trợ chuyên môn qua Telemedicine, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Hà Nội) đang từng bước đưa năng lực của bệnh viện ngoại khoa tuyến cuối về gần người bệnh hơn. Đích đến không chỉ là xử trí một ca bệnh khó mà còn giúp tuyến dưới làm chủ kỹ thuật, hạn chế chuyển tuyến và nâng cao chất lượng điều trị ngay tại địa phương.

viet-duc.jpg
Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến (Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức) tổ chức khóa đào tạo chuyên môn và Đề án 1816 năm 2026, đánh dấu bước chuyển giao thành công các kỹ thuật y khoa chuyên sâu về cho y tế cơ sở. Ảnh: PV

Đưa chuyên gia tuyến cuối về với tuyến dưới

Được Bộ Y tế triển khai từ năm 2008, Đề án 1816 hướng tới mục tiêu tăng cường cán bộ chuyên môn từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ tuyến dưới, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và giảm quá tải cho các bệnh viện Trung ương. Trong đó, đào tạo tại chỗ, chuyển giao kỹ thuật và hướng dẫn thực hành là những giải pháp quan trọng nhằm giúp đội ngũ y tế cơ sở nâng cao năng lực chuyên môn, chủ động xử trí các bệnh lý ngay tại địa phương.

Với vai trò là bệnh viện ngoại khoa tuyến cuối, nhiều năm qua, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức duy trì hoạt động chỉ đạo tuyến, đào tạo và chuyển giao kỹ thuật cho các cơ sở y tế trên cả nước.

Các chương trình chuyển giao ngày càng được xây dựng trên cơ sở khảo sát nhu cầu thực tế, căn cứ nhân lực chuytên môn, cơ sở vật chất và khả năng tiếp nhận của từng bệnh viện, thay vì triển khai đồng loạt.

Năm 2026, hoạt động đào tạo, chuyển giao tiếp tục tập trung vào nhiều lĩnh vực có tính ứng dụng cao như cấp cứu chấn thương ban đầu, chụp và đọc cộng hưởng từ, điều dưỡng ngoại khoa, hồi sức sau mổ, phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng... Phương thức “cầm tay chỉ việc” được chú trọng, giúp cán bộ tuyến dưới không chỉ tiếp nhận kiến thức lý thuyết mà trực tiếp thực hành, từng bước triển khai kỹ thuật tại đơn vị.

viet-duc-2.jpg
PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh - Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Giám đốc Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến phát biểu tại chương trình đào tạo kỹ thuật chuyên môn. Ảnh: PV

PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh, Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Giám đốc Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến cho rằng, hoạt động đào tạo, chuyển giao kỹ thuật trong khuôn khổ Đề án 1816 cần bám sát nhu cầu thực tế của từng cơ sở tiếp nhận. Việc đào tạo không chỉ dừng ở cập nhật kiến thức mà phải chú trọng thực hành, chuẩn hóa kỹ năng để cán bộ y tế tuyến dưới có thể triển khai kỹ thuật sau khi trở về đơn vị. Mục tiêu vì vậy không phải để tuyến trên “làm thay” tuyến dưới, mà giúp hình thành năng lực chuyên môn bền vững tại chỗ.

viet-duc-9.jpg
Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa ký biên bản khảo sát công tác chỉ đạo tuyến. Ảnh: PV

Tháng 10-2026, Bệnh viện Việt Đức tiếp tục khảo sát tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa nhằm đánh giá nhu cầu đào tạo, chuyển giao kỹ thuật và khả năng tiếp nhận các gói kỹ thuật; đồng thời rà soát công tác Chỉ đạo tuyến, Đề án 1816, Đề án Khám và Dự án Bệnh viện vệ tinh giai đoạn 2026 - 2030; đánh giá hoạt động truyền hình trực tuyến và kế hoạch Chỉ đạo tuyến năm 2027.

Khi khoảng cách được rút ngắn bằng Telemedicine

Nếu Đề án 1816 đưa bác sĩ tuyến trên trực tiếp về địa phương, thì Telemedicine mở rộng khả năng hỗ trợ chuyên môn mà không còn bị giới hạn nhiều bởi khoảng cách địa lý.

Bệnh viện Việt Đức bắt đầu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý từ năm 1999. Đến năm 2004, bệnh viện phát triển mạng lưới y tế từ xa và đến năm 2006 triển khai tư vấn phẫu thuật trực tuyến, trong bối cảnh khám chữa bệnh từ xa còn khá mới tại Việt Nam.

Giai đoạn 2013-2019, gần 600 cuộc hội chẩn, đào tạo và chuyển giao kỹ thuật từ xa được thực hiện tại 23 điểm cầu. Mạng lưới sau đó được mở rộng lên hơn 100 điểm cầu, tạo điều kiện để các bệnh viện địa phương kết nối với chuyên gia đầu ngành khi cần hỗ trợ.

Hiệu quả của hệ thống thể hiện rõ nhất trong những tình huống cấp cứu, khi thời gian có thể quyết định cơ hội sống của người bệnh. Năm 2014, khi xảy ra vụ sập cầu Chu Va tại Lai Châu, thông qua hệ thống Telemedicine, các chuyên gia Bệnh viện Việt Đức tư vấn cho bác sĩ địa phương xử trí người bị nạn trước khi ê-kíp chuyên môn từ Hà Nội có mặt.

viet-duc-9(1).jpg
Một bệnh nhân đa chấn thương nguy kịch sau tai nạn giao thông đã được cứu sống nhờ sự phối hợp khẩn trương giữa Bệnh viện Đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức thông qua hệ thống hội chẩn từ xa Telemedicine. Ảnh: B

Một trường hợp khác là nữ giáo viên tại Sơn La bị xe tải cán qua người, gây tổn thương đa tạng nghiêm trọng. Trong tình trạng nguy kịch, các bác sĩ tại địa phương nhận được hỗ trợ của chuyên gia Việt Đức qua Telemedicine để xử trí ban đầu trước khi ê-kíp tuyến cuối tới hỗ trợ phẫu thuật và chuyển người bệnh về Hà Nội.

Sau này, trong vụ sập cầu Phong Châu hay khi bão YAGI ảnh hưởng nhiều tỉnh phía Bắc, hội chẩn từ xa tiếp tục được sử dụng để hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới xử trí những ca chấn thương nặng.

Điều quan trọng là Telemedicine không thay thế bác sĩ tại chỗ. Người trực tiếp khám, xử trí và chăm sóc người bệnh vẫn là đội ngũ y tế địa phương; phía sau họ có thêm sự hỗ trợ chuyên môn của các chuyên gia tuyến cuối.

Đây cũng là điểm nối giữa chuyển giao kỹ thuật và khám chữa bệnh từ xa. Sau một khóa đào tạo, khi gặp tình huống vượt quá kinh nghiệm xử trí, bác sĩ tuyến dưới vẫn có thể tiếp tục trao đổi với chuyên gia tuyến trên thay vì phải ngay lập tức chuyển người bệnh lên Trung ương.

Chuyển giao không kết thúc sau một khóa đào tạo

Một yêu cầu đặt ra đối với công tác chỉ đạo tuyến là sau khi được đào tạo, cơ sở tiếp nhận phải có khả năng duy trì và phát triển kỹ thuật. Vì vậy, trước mỗi chương trình chuyển giao, Bệnh viện Việt Đức thường khảo sát đồng thời nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và điều kiện thực hành của đơn vị tiếp nhận.

Cách làm này giúp hạn chế tình trạng cán bộ được đào tạo nhưng trở về địa phương không có điều kiện triển khai, hoặc kỹ thuật chỉ được thực hiện trong thời gian ngắn rồi gián đoạn.

viet-duc-6.jpg
BSCKII Khổng Tiến Bình - Trưởng Khoa Nội, Can thiệp Tim mạch - Hô hấp, Trung tâm Tim mạch và Lồng ngực, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức khảo sát hệ thống máy siêu âm tim và kỹ thuật siêu âm tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: PV

PGS.TS Trần Đình Thơ, Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức nhìn nhận, để tiếp nhận hiệu quả các gói kỹ thuật, bệnh viện tuyến dưới cần có kế hoạch phát triển nhân lực cụ thể, lựa chọn những kỹ thuật thực sự cần thiết và chuẩn bị điều kiện trang thiết bị tương ứng.

Song song với chuyển giao trực tiếp, Bệnh viện Việt Đức duy trì khả năng hỗ trợ từ xa, hội chẩn những ca bệnh khó, nguy cấp qua hệ thống TeleHealth. Nhờ đó, mối liên hệ giữa tuyến trên và tuyến dưới không kết thúc sau một đợt đào tạo mà có thể tiếp tục khi bác sĩ địa phương gặp những tình huống phức tạp.

Sự kết hợp giữa mô hình đào tạo trực tiếp - chuyển giao kỹ thuật - hỗ trợ chuyên môn từ xa giúp quá trình tiếp nhận kỹ thuật có tính liên tục hơn. Thực tế tại một số bệnh viện tuyến tỉnh cho thấy, sau quá trình đào tạo và chuyển giao, nhiều kỹ thuật chuyên sâu về tiêu hóa, tiết niệu, chấn thương chỉnh hình, thần kinh, lồng ngực, gây mê hồi sức và chẩn đoán hình ảnh đã có thể được triển khai tại địa phương. Qua đó, người bệnh có thêm cơ hội tiếp cận các dịch vụ kỹ thuật cao ngay tại nơi sinh sống, hạn chế những trường hợp phải di chuyển xa lên bệnh viện Trung ương.

viet-duc-5.jpg
BSCKII Mẫn Văn Chung - Phó Trưởng khoa Phẫu thuật Gan mật, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trực tiếp thực hiện phẫu thuật tắc mật do u vater, sỏi mật tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Ảnh: PV

Trong bối cảnh ngành y tế hướng tới nâng cao năng lực hệ thống khám, chữa bệnh theo từng tuyến, hiệu quả của công tác chỉ đạo tuyến không chỉ được đánh giá bằng số lượng khóa đào tạo, số lượt chuyển giao hay cuộc hội chẩn. Quan trọng là khả năng làm chủ kỹ thuật của đội ngũ y tế cơ sở, chất lượng điều trị và mức độ an toàn của người bệnh.

Từ Đề án 1816 đến Telemedicine và chuyển giao kỹ thuật, phương thức hỗ trợ tuyến dưới đang từng bước thay đổi từ những đợt hỗ trợ riêng lẻ sang mô hình kết nối thường xuyên hơn, hỗ trợ tốt nhất cho người bệnh. Đó cũng là thước đo thiết thực nhất cho hoạt động chỉ đạo tuyến và nâng cao năng lực chuyên môn từ tuyến cơ sở.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Đề án 1816: Đưa kỹ thuật tuyến cuối về gần người bệnh

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.