Trải dài 3.260km trên lãnh thổ nước ta, biển không chỉ hiện diện và có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống kinh tế, xã hội mà còn trong không gian văn hóa Việt Nam từ chiều sâu ký ức, các thực hành đời sống đến nghi lễ "uống nước nhớ nguồn" của người Việt. Tuy nhiên, do những điều kiện lịch sử cụ thể, việc nhìn nhận và phát huy giá trị của không gian văn hóa biển trong tiến trình lịch sử dân tộc đã trải qua nhiều giai đoạn với những cách tiếp cận khác nhau.
Hội thảo "Văn hóa biển trong thời đại Hùng Vương" do Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển phối hợp với UBND phường Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tổ chức mới đây đã quy tụ nhiều ý kiến khoa học nhằm nhận diện đầy đủ vai trò của văn hóa biển. Từ đây, các nhà khoa học cũng gợi mở những định hướng nhằm phát huy mạnh mẽ nguồn lực và giá trị văn hóa biển, phục vụ phát triển địa phương cũng như góp phần kiến tạo quốc gia.

Từ truyền thuyết đến tinh thần hướng biển
Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem là một chỉ dấu quan trọng về sự gắn kết không gian đất liền - biển đảo trong đời sống cư dân Việt ngay từ thời đại Hùng Vương. Dù mang màu sắc huyền thoại, nhưng với các kết quả khảo cổ học minh chứng về sự tồn tại của thời kỳ này, câu chuyện Cha Rồng - Mẹ Tiên vẫn được xem là một kênh phản chiếu những giá trị hiện thực trong xã hội, văn hóa Việt Nam thời lập quốc.
GS.TS Phạm Hồng Tung (nguyên Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã có một khái quát và lý giải quan trọng về tính hướng biển trong văn hóa của người Việt Nam. Cụ thể, với chỉ số hướng biển (maritime exposure rate) ở mức cao trên thế giới (dựa trên chiều dài đường bờ biển và hình thể đất liền), dân tộc Việt Nam đã mang trong mình căn tính hướng biển từ sớm. Tuy nhiên, do những điều kiện lịch sử nhất định, trải qua quá trình phát triển, Việt Nam cơ bản trở thành một quốc gia hướng nội địa. Căn tính biển chỉ trỗi dậy trong những giai đoạn nhất định qua các hoạt động giao thương, buôn bán... Biển gần như đã trở thành một vùng biên để đề phòng ngoại xâm và hải tặc, thậm chí là một hình dung gắn liền với nỗi sợ hãi về thiên tai, quyền lực siêu nhiên. Tâm lý ấy khiến cho việc nhìn nhận vai trò văn hóa biển, nguồn tài nguyên biển trong các giai đoạn phát triển đất nước sau này, còn không ít hạn chế.
Dấu mốc quan trọng về chính sách đối với nguồn lực biển là việc Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đề ra chủ trương phát triển kinh tế biển trên cơ sở một chiến lược quốc gia về biển. Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 22-10-2018 về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” nêu rõ: “Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển...”. Đây là bước đi tất yếu khi trên thế giới, những nghiên cứu văn hóa Việt Nam nhìn từ biển của các học giả quốc tế cũng nổi lên mạnh mẽ. TS Vũ Minh (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã chỉ ra, trong khoảng hai thập niên qua, văn hóa biển Việt Nam và đặc biệt là hình tượng Lạc Long Quân đã trở thành mối quan tâm đặc biệt của giới học giả quốc tế. Các nghiên cứu đã mang đến một cách nhìn mới về văn hóa Việt Nam, năng động hơn, mở rộng hơn từ góc độ giao thương, văn hóa biển thay vì chỉ nhìn từ lục địa và văn hóa nông nghiệp truyền thống.
Bối cảnh trong nước và quốc tế này có thể xem là những điều kiện thuận lợi để tái nhận diện vị thế văn hóa biển trong tổng thể văn hóa Việt Nam, trước yêu cầu phát triển mới, đặc biệt sau khi sáp nhập tỉnh, thành. Theo Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025, Việt Nam có 21 tỉnh, thành phố có biển, chiếm tỉ lệ 62% (21/34 tỉnh, thành phố) thay vì 28 tỉnh, thành phố ven biển với tỉ lệ 44% (28/63 tỉnh, thành phố) trước khi sáp nhập. Mở rộng số địa phương gắn liền với biển chính là một thông điệp của việc phát huy không gian văn hóa biển gắn liền với tiềm lực mỗi vùng đất.
Phát huy giá trị không gian văn hóa biển
Sự kiện phường Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng phối hợp với các nhà nghiên cứu nhằm xây dựng một nhận thức khoa học có chiều sâu về văn hóa biển Việt Nam cũng như vị thế của Hải Phòng - Đồ Sơn trong không gian văn hóa biển quốc gia là một nỗ lực của địa phương trong việc hiện thực hóa các chủ trương, chính sách về kinh tế, văn hóa biển. Có thể thấy, các hướng nhìn nhận, phát huy giá trị văn hóa biển thể hiện trong nhiều chiều kích, từ tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, phát triển sản phẩm văn hóa thể thao phục vụ du lịch, thậm chí tiến tới xây dựng, bồi đắp hệ sinh thái văn hóa mang bản sắc địa phương.
TS Nguyễn Thị Việt Nga, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng cho rằng, trong nhiều thập niên, việc Đồ Sơn được nhận diện như một điểm đến nghỉ dưỡng ven biển là đúng song chưa đủ. “Nếu cư dân Đồ Sơn nhận ra rằng biển quê mình không chỉ là sinh kế, không chỉ là bãi tắm, mà còn là một phần của mạch nguồn văn hóa dân tộc, họ sẽ có thêm động lực để gìn giữ môi trường biển, bảo tồn lễ hội, nâng cao chất lượng dịch vụ, ứng xử văn minh với du khách và tham gia vào quá trình phát triển du lịch như những chủ nhân thực sự”, bà Nga nhận định.
Các chuyên gia, nhà quản lý cũng đặt ra nhiều vấn đề về cơ chế phối hợp giữa chính quyền với nhà khoa học; phát triển sản phẩm du lịch biển gắn chặt với bảo vệ môi trường biển; nâng tầm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên gắn với văn hóa biển...
TS Đặng Ngọc Hà (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội) chỉ ra, sức hút du lịch biển truyền thống Đồ Sơn đã có dấu hiệu suy giảm, đặt ra yêu cầu tái cấu trúc sản phẩm du lịch trên cơ sở khai thác tổng hợp tài nguyên tự nhiên và lịch sử - văn hóa phong phú của vùng đất này. Ví như xây dựng các tuyến du lịch chuyên đề “Hành trình Phật giáo thời Lý ở Đồ Sơn”, “Con đường di sản biển”, “Không gian văn hóa cư dân vạn chài Đồ Sơn”...
TS Đinh Đức Tiến (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) phân tích, Hải Phòng hiện nay nằm trong không gian văn hóa tâm linh - tín ngưỡng thờ Quốc Tổ - Quốc Mẫu - vua Hùng. Việc khẳng định và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ cúng Lạc Long Quân và Âu Cơ không chỉ mang ý nghĩa chính trị, xã hội, mà còn tạo động lực cho phát triển văn hóa và kinh tế di sản. Ở một chiều kích khác, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thanh, Hội Khoa học Lịch sử thành phố Hải Phòng đã đặt vấn đề về việc nhận diện quảng bá hệ giá trị tài nguyên văn hóa Đồ Sơn - một vùng đất tiêu biểu cho văn hóa cư dân ven biển (từ tính cách con người, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo đến văn học nghệ thuật, di tích lịch sử, văn hóa...). Có thể nói, câu chuyện Đồ Sơn với những dấu tích hướng biển từ sớm của người Việt, trong cả di sản vật thể và phi vật thể, là một gợi ý cho sự phát triển không gian văn hóa ở các địa phương gắn liền với biển trên cả nước.
Thực tế tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) cho thấy, văn hóa biển nơi đây hiện diện một cách đậm đặc, không chỉ trong kiến trúc, ẩm thực, trong thiết chế lịch sử - văn hóa, trong lễ hội, ký ức, trong các di chỉ khảo cổ học, trong không gian hiện vật của nhà sưu tầm..., mà còn thấm đẫm trong sinh hoạt hằng ngày của người dân. Trong khi đó, Vườn quốc gia Xuân Thủy (xã Giao Minh, tỉnh Ninh Bình) lại là không gian gắn liền với môi trường Khu dự trữ sinh quyển thế giới và văn hóa sinh kế vùng cửa sông ven biển đặc sắc.
Như vậy, phát huy không gian văn hóa biển đòi hỏi một sự thấu hiểu và ứng xử phù hợp với các lớp văn hóa, đảm bảo khai thác đi kèm với bảo tồn và bồi đắp các giá trị bản địa, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Rõ ràng, Việt Nam là một quốc gia có đường bờ biển dài, chỉ số hướng biển khá cao, văn hóa biển có cội nguồn sâu đậm. Việc chú trọng yếu tố biển trong các chiến lược phát triển của địa phương ven biển và khu vực gắn liền với biển là yêu cầu tất yếu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong tương lai.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.