Đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm vào sản xuất, kinh doanh là yêu cầu quan trọng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tạo ra giá trị thực tiễn. Cùng với hoàn thiện thể chế, việc tăng cường liên kết giữa các tổ chức nghiên cứu với doanh nghiệp và phát triển các tổ chức trung gian đang từng bước mở rộng “đường ra” cho công nghệ, đưa kết quả nghiên cứu đến gần hơn với thị trường.

“Khoảng trống chuyển hóa” giữa kết quả nghiên cứu và thị trường
UBND thành phố Hà Nội vừa cho phép Công ty cổ phần Phenikaa-X thử nghiệm có kiểm soát hệ thống giao thông tự hành thông minh, gồm: Xe buýt, robotaxi, robot dọn vệ sinh và robot giao hàng. Dự án kéo dài 24 tháng tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc và cơ sở Hòa Lạc của Đại học Quốc gia Hà Nội, nhằm kiểm chứng khả năng vận hành, độ an toàn, độ tin cậy và khả năng kết nối với hạ tầng giao thông trong môi trường thực tế. Đây là bước đi đáng chú ý trong việc đưa công nghệ mới ra khỏi phòng nghiên cứu, kiểm chứng trong môi trường thực tế dưới cơ chế kiểm soát chặt chẽ.
Vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là tạo ra công nghệ mà còn làm thế nào để công nghệ vượt qua các bước hoàn thiện và trở thành sản phẩm được thị trường chấp nhận. Theo PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, giảng viên cao cấp, nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, điểm nghẽn lớn nhất nằm ở “khoảng trống chuyển hóa” giữa kết quả nghiên cứu và thị trường. Nhiều đề tài chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, người dân nên không ít kết quả nghiên cứu khoa học chỉ mới dừng ở bài báo, bằng sáng chế hoặc nguyên mẫu.
Cũng theo PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, sau khi có nguyên mẫu, công nghệ còn phải trải qua các bước kiểm định, chứng nhận, chuẩn hóa, hoàn thiện sản phẩm và kiểm chứng nhu cầu thị trường trước khi sản xuất, thương mại hóa. Đây là giai đoạn rủi ro cao, khó tiếp cận nguồn vốn thương mại, nhưng lại cần nguồn lực đáng kể. Bên cạnh đó, năng lực chuyển giao công nghệ tại nhiều cơ sở nghiên cứu còn hạn chế. Nhà khoa học khó có thể cùng lúc đảm nhiệm nhiều khâu như: Nghiên cứu, sở hữu trí tuệ, định giá công nghệ, pháp lý và phát triển kinh doanh. Vì vậy, các trường đại học, cơ sở nghiên cứu cần có TTO (Technology Transfer Office - đơn vị chuyển giao công nghệ) chuyên nghiệp, đủ năng lực sàng lọc kết quả nghiên cứu, đánh giá tiềm năng ứng dụng, bảo hộ sở hữu trí tuệ, tìm đối tác, đàm phán và kết nối vốn, thị trường.
GS.TS Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, giá trị cuối cùng của nghiên cứu không chỉ nằm ở công bố khoa học, mà phải thể hiện bằng khả năng tạo ra công nghệ, sản phẩm, doanh nghiệp, thị trường và đóng góp thiết thực cho đời sống. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện có nhiều kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên, để những kết quả này trở thành sản phẩm, dịch vụ thực tiễn, vẫn cần cơ chế sàng lọc, tiêu chuẩn hóa, thử nghiệm và chuyển giao phù hợp.
Đưa các doanh nghiệp vào cuộc
Để kết quả nghiên cứu bám sát nhu cầu thực tế và có đầu ra rõ ràng hơn, một trong những giải pháp quan trọng là thay đổi vai trò của doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu. Theo PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, thay vì “nghiên cứu xong mới tìm doanh nghiệp”, doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khi xác định bài toán, xây dựng tiêu chí đầu ra và phương án thử nghiệm. Khi thống nhất được yêu cầu về kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và phương án tiếp nhận, doanh nghiệp có thể trở thành bên đồng kiến tạo, đồng tài trợ và khách hàng đầu tiên của đề tài công nghệ.
GS.TS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, ở khâu thương mại hóa và đầu tư, nhà trường đã có BK-Holdings và BK-Fund. Thành lập năm 2008, BK-Holdings là công ty theo mô hình Holdings (công ty nắm giữ hay công ty mẹ) đầu tiên trong hệ thống cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, đóng vai trò trung gian kết nối nhà trường với doanh nghiệp, đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Trong khi đó, BK-Fund là quỹ đầu tư do cộng đồng cựu sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội sáng lập, tập trung vào các startup công nghệ giai đoạn sớm trong hệ sinh thái của trường. Qua đó, doanh nghiệp được đặt vào vị trí đối tác đồng hành ngay từ quá trình hình thành ý tưởng, thay vì chỉ là nơi tiếp nhận kết quả nghiên cứu.
Cùng với sự tham gia của doanh nghiệp, hành lang pháp lý cũng đang được hoàn thiện. Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng các nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của luật đã tạo cơ sở theo hướng tăng quyền tự chủ cho tổ chức chủ trì và nhà khoa học, đơn giản hóa thủ tục chuyển giao, đồng thời có cơ chế về quyền sở hữu, chấp nhận rủi ro và phân chia lợi ích từ thương mại hóa. Các chính sách quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ cũng chuyển mạnh theo hướng lấy kết quả đầu ra làm trung tâm, tăng đặt hàng từ thực tiễn, thúc đẩy liên kết Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp. Những cơ chế như voucher, hỗ trợ lãi suất, đồng tài trợ được kỳ vọng giúp doanh nghiệp giảm chi phí tiếp cận công nghệ và tăng khả năng đưa sản phẩm vào thực tế.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.