Kinh tế

Chu kỳ đầu tư mới và cơ hội cho công nghiệp hỗ trợ

Thạc sĩ Đặng Đình Nam • 11/10/2026 - 17:51

Việt Nam đang bước vào một chu kỳ đầu tư mới. Những dự án lớn về đường sắt, năng lượng, trung tâm dữ liệu cùng sự phát triển của điện tử, ô tô, cơ khí chế tạo và nhiều ngành công nghệ mới sẽ kéo theo nhu cầu rất lớn về vật liệu, thiết bị, linh kiện và dịch vụ kỹ thuật.

kcn-phu-nghia.jpg
Sản xuất linh kiện phụ trợ tại Khu công nghiệp Phú Nghĩa, Hà Nội. Ảnh: Phạm Hùng

Một thị trường mới đang mở và yêu cầu với doanh nghiệp nội địa

Điều đáng chú ý là thị trường này không hình thành từ một vài dự án riêng lẻ. Nhu cầu trải rộng từ hạ tầng giao thông, năng lượng đến các ngành sản xuất và công nghệ mới. Phía sau mỗi dự án, mỗi sản phẩm hoàn chỉnh là một chuỗi vật liệu, chi tiết, linh kiện, cụm linh kiện, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật mà doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có thể tham gia. Các dự án đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị sẽ cần khối lượng lớn thiết bị, vật liệu và các sản phẩm cơ khí. Các dự án điện quy mô lớn và hạ tầng năng lượng tiếp tục mở rộng nhu cầu đối với thiết bị điện, cơ khí và vật liệu. Cùng với đó là sự phát triển của những ngành sản xuất, công nghệ mới.

Quy mô thị trường có ý nghĩa đặc biệt với những doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ phải tính toán cho các khoản đầu tư dài hạn. Một dây chuyền mới, một bộ khuôn mới, công nghệ mới hay đội ngũ kỹ thuật mới đều cần vốn và đầu ra. Công nghiệp hỗ trợ cũng là lĩnh vực có thời gian tích lũy dài, yêu cầu kỹ thuật cao, nhiều ngành phải trải qua quá trình đánh giá và chứng nhận nhà cung cấp trước khi có thể tham gia chuỗi.

Thực tế ở một số ngành cho thấy sự phát triển của sản phẩm cuối cùng có thể kéo theo sự mở rộng của mạng lưới cung ứng. Quy mô sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước tăng đã tạo thị trường cho vật liệu, linh kiện và dịch vụ kỹ thuật. Trong điện tử, doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia cung ứng từ nhựa kỹ thuật, dây cáp điện, khuôn mẫu, chi tiết cơ khí chính xác đến một phần bảng mạch và cụm linh kiện.

Quy mô thị trường lớn chưa đồng nghĩa doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nội địa đương nhiên nhận được phần việc tương ứng. Theo Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) Phạm Văn Quân, nước ta hiện có khoảng 7.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, nhưng khoảng 88% có quy mô nhỏ và vừa. Khoảng 1.000 doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho doanh nghiệp lắp ráp và các tập đoàn đa quốc gia, trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 30%.

Khả năng cung ứng cũng có khoảng cách khá lớn giữa các ngành. Theo số liệu ông Phạm Văn Quân đưa ra, khả năng cung ứng trong nước đối với các nhóm linh kiện cơ khí, điện - điện tử, nhựa - cao su cho ngành xe máy đã đạt khoảng 85-95%, nhưng với công nghiệp công nghệ cao mới khoảng 5 - 10%.

Khoảng cách còn nằm ở vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi. Ông Phạm Văn Quân dẫn trường hợp Samsung hiện có 340 doanh nghiệp Việt Nam là nhà cung ứng cấp 1 và cấp 2, song chủ yếu cung cấp vật tư tiêu hao, bao bì, in ấn và các linh kiện có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng chưa cao.

Trong khi đó, chu kỳ đầu tư mới đang tạo ra những nhu cầu có quy mô lớn và kéo dài nhiều năm.

Chuyển từ “nội địa hóa sản phẩm” sang “nội địa hóa giá trị và năng lực”

Với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, một đơn hàng đủ lớn và có khả năng duy trì có thể tạo cơ sở cho một quyết định đầu tư. Từ một đơn hàng mới có thể xuất hiện một dây chuyền mới, một bộ khuôn mới, một công nghệ mới hay một sản phẩm trước đây doanh nghiệp chưa làm được.

Từ thực tế các dự án dầu khí và năng lượng, Thành viên Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) Trần Hồng Nam, cho biết, các dự án và hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn cùng các đơn vị thành viên tạo ra nhu cầu thường xuyên về vật tư, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật chuyên ngành. Doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia gia công, chế tạo cơ khí, cung cấp vật tư, thiết bị phụ trợ, thi công, lắp đặt, kiểm định, bảo dưỡng và dịch vụ kỹ thuật.

Theo ông Trần Hồng Nam, để doanh nghiệp trong nước có cơ sở đầu tư công nghệ và năng lực sản xuất, các chủ đầu tư dự án năng lượng cần xây dựng kế hoạch mua sắm trung và dài hạn. Với những dự án lớn được triển khai theo chuỗi, danh mục sản phẩm có khả năng sản xuất trong nước cần được xác định ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Khi biết trước nhu cầu, yêu cầu kỹ thuật và quy mô thị trường, doanh nghiệp có thêm cơ sở để tính toán đầu tư thiết bị, công nghệ và tổ chức sản xuất.

Ở phạm vi rộng hơn, trong Hội thảo khoa học quốc gia “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” ngày 30-9-2026, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đặt vấn đề nghiên cứu cơ chế để đầu tư công, các dự án hạ tầng chiến lược, mua sắm công và mua sắm của doanh nghiệp nhà nước trở thành những “đơn đặt hàng đầu tiên” cho doanh nghiệp trong nước. Với các doanh nghiệp đầu chuỗi, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị chuyển từ mua mô-đun hoàn chỉnh sang công bố tiêu chuẩn, đặt hàng từng phân hệ và đồng hành với nhà cung ứng Việt Nam.

Thực tế tại Petrovietnam cho thấy quá trình tham gia các dự án cũng có thể giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực. Theo ông Trần Hồng Nam, qua tham gia gia công, chế tạo và cung cấp cho các dự án, một số doanh nghiệp trong nước đã từng bước nâng cao năng lực quản lý sản xuất, kiểm soát chất lượng, đáp ứng tiến độ, trình độ nhân sự và lập hồ sơ kỹ thuật.

Ngay trong hệ sinh thái Petrovietnam, Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) đã tự chủ gia công, phục hồi một số vật tư, thiết bị, đồng thời hợp tác đồng chế tạo với một số doanh nghiệp, viện nghiên cứu. Đây là một hướng để từ nhu cầu thực tế của sản xuất hình thành thêm năng lực sản xuất trong nước.

Một doanh nghiệp bắt đầu từ một chi tiết đơn giản có thể tiến tới sản xuất cụm linh kiện, rồi phân hệ. Khi khả năng thiết kế, công nghệ, quản trị chất lượng và tổ chức sản xuất được tích lũy, doanh nghiệp có cơ hội đảm nhận những phần việc lớn hơn và có giá trị cao hơn.

Khoảng dịch chuyển này còn nhiều dư địa. Theo ông Phạm Văn Quân, hiện chỉ khoảng 19% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực dệt may, da giày và 33% trong lĩnh vực điện tử thực hiện công đoạn thiết kế trong quá trình sản xuất. Những năng lực như nghiên cứu - phát triển, thiết kế sản phẩm, thiết kế công nghệ, phát triển vật liệu, phần mềm điều khiển và sở hữu trí tuệ cũng chưa phổ biến.

Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam”, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho rằng, thay vì chỉ quan tâm có bao nhiêu doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng hay tỷ lệ nội địa hóa đạt bao nhiêu, cần nhìn sâu hơn vào giá trị được tạo ra trong nước, công nghệ Việt Nam có thể làm chủ, vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi và khả năng tiến lên những tầng cao hơn của chuỗi giá trị.

Theo đó, cần chuyển từ “nội địa hóa sản phẩm” sang “nội địa hóa giá trị và năng lực”. Một ngành sản xuất cuối cùng có thể tăng nhanh về quy mô nhưng nếu phần lớn vật liệu, linh kiện và những khâu có giá trị cao vẫn nằm ngoài doanh nghiệp trong nước, mức độ tích lũy năng lực công nghiệp nội địa sẽ chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng sản xuất. Đích đến mà Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đề cập là một hệ thống doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nội địa có năng lực thực chất, cung ứng ổn định, làm chủ ngày càng nhiều công đoạn có giá trị cao, từng bước trở thành nhà cung ứng chiến lược, nhà cung ứng cấp 1 và nhà tích hợp hệ thống.

Một chu kỳ đầu tư mới vì thế cũng có thể mở ra một chu kỳ phát triển mới cho công nghiệp hỗ trợ Việt Nam.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Chu kỳ đầu tư mới và cơ hội cho công nghiệp hỗ trợ

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.