Tối 4-6, từ 19h đến 20h, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện chương trình “Hà Nội Chuyển động” với chủ đề “Chống xâm hại sở hữu trí tuệ - bảo vệ sáng tạo, thúc đẩy phát triển”, trực tiếp từ trường quay S1.
Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ hiện đang là vấn đề nhức nhối trên không gian mạng cũng như thị trường thực tế, diễn ra ở nhiều lĩnh vực như xâm phạm bản quyền phim, âm nhạc, trò chơi điện tử; xâm phạm sở hữu công nghiệp; hàng hóa giả nhãn hiệu; dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo (AI), sáng chế và các sản phẩm khoa học - công nghệ.

Theo Cục Xuất bản, In và Phát hành, vi phạm bản quyền trên môi trường số đang gây thiệt hại khoảng 7.000 tỷ đồng mỗi năm. Mặc dù công tác phòng, chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thời gian qua đã đạt nhiều kết quả tích cực, nhiều vụ việc được phát hiện và xử lý, song tình trạng vi phạm vẫn diễn biến phức tạp tại một số lĩnh vực, địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đầu tư, kinh doanh cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Trước thực tế đó, ngày 5-5-2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 38/CĐ-TTg, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai quyết liệt các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn và xử lý nghiêm hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, các lực lượng chức năng đã đồng loạt ra quân từ ngày 7-5 đến 30-5 với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”.
Chỉ sau 3 tuần triển khai, các bộ, ngành và địa phương đã phát hiện, xử lý 1.438 vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; trong đó xử phạt hành chính 1.146 vụ, khởi tố hình sự 28 vụ. Tổng số tiền xử phạt là 12,6 tỷ đồng, trị giá hàng hóa vi phạm gần 36 tỷ đồng.
Thực tế cho thấy, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số đang diễn biến ngày càng phức tạp, đặt ra yêu cầu cấp thiết về các giải pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn, xử lý triệt để tình trạng này, qua đó bảo vệ môi trường sáng tạo và thúc đẩy phát triển bền vững.
Từ tinh thần đó, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội lựa chọn chủ đề “Chống xâm hại sở hữu trí tuệ - bảo vệ sáng tạo, thúc đẩy phát triển” là nội dung của chương trình “Hà Nội Chuyển động” hôm nay.
Tham gia chương trình tại trường quay S1 của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội có: Luật sư Nguyễn Văn Hà, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Luật gia thành phố Hà Nội; ông Hoàng Đình Chung, Giám đốc Trung tâm Bản quyền số, Hội Truyền thông số Việt Nam.
Trong môi trường số, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang diễn ra ngày càng tinh vi, khó nhận diện và dễ lan rộng. Không chỉ dừng lại ở việc sao chép, phát tán trái phép nội dung, nhiều vi phạm còn núp bóng dưới các hình thức chia sẻ, khai thác và kinh doanh trên nền tảng số. Vậy đâu là những hành vi xâm phạm phổ biến hiện nay? Làm thế nào để nhận diện đúng và có giải pháp ngăn chặn hiệu quả?
Xâm phạm bản quyền diễn biến phức tạp, tinh vi
Tại chương trình, luật sư Nguyễn Văn Hà, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Luật gia thành phố Hà Nội cho rằng, việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố hàng loạt cá nhân, tổ chức liên quan đến các đơn vị giải trí, âm nhạc lớn vừa qua thực sự là một "cơn chấn động" lớn và là một bước ngoặt lớn để đánh giá, rà soát công tác thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.

Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam chỉ ra 3 thực tế đáng báo động về tình trạng xâm phạm bản quyền hiện nay trên môi trường số:
Thứ nhất, có sự dịch chuyển từ vi phạm nhỏ lẻ sang vi phạm có tổ chức, mức độ nghiêm trọng hơn và quy mô rất lớn. Đây là một điều đáng báo động trong giai đoạn hiện nay và cũng là vấn đề đặt ra trong công việc xây dựng hoàn thiện thể chế.
Thứ hai, các đối tượng tận dụng tối đa về công nghệ để né tránh pháp luật, như: Mạng phân phối nội dung (CDN), proxy, máy chủ đặt ở nước ngoài, thậm chí liên tục thay đổi tên miền để xóa dấu vết. Đặc biệt, lợi dụng trí tuệ nhân tạo (AI) càng khiến tốc độ phát tán nội dung lậu diễn ra chóng mặt, tạo ra khó khăn trong xử lý vi phạm. Điều này cũng gây khó khăn rất lớn cho các cơ quan thực thi pháp luật của Việt Nam trong việc xử lý nghiêm đối với hành vi này.
Thứ ba, các cơ quan, tổ chức, các đơn vị này trong quá trình thực hiện hành vi vi phạm đã hợp thức hóa bằng khai thác thương mại, thậm chí là tranh chấp bản quyền… Đây cũng chính là kẽ hở, là lỗ hổng mà các chủ thể cá nhân đó lợi dụng để tiếp tục khai thác và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật.
Theo luật sư Nguyễn Văn Hà, việc đưa ra các biện pháp để xử lý tranh chấp từ vấn đề dân sự đến xử phạt vi phạm hành chính và xử lý hình sự, tạo ra thông điệp mạnh mẽ thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc xử lý dứt điểm các hành vi vi phạm.
Vi phạm bản quyền số ngày càng tinh vi, vận hành như một “doanh nghiệp ngầm”
Chia sẻ về tình trạng vi phạm bản quyền trên môi trường số, ông Hoàng Đình Chung, Giám đốc Trung tâm Bản quyền số (Hội Truyền thông số Việt Nam) cho biết, các hệ thống vi phạm bản quyền hiện nay thường áp dụng nhiều lớp kỹ thuật để đối phó với hoạt động kiểm tra, xử lý. Trong đó, phổ biến nhất là việc sử dụng các mạng phân phối nội dung (CDN) nhằm phân tán lưu lượng truy cập và che giấu hạ tầng máy chủ thực sự.
Bên cạnh đó, các đối tượng còn sử dụng hệ thống proxy để ẩn nguồn máy chủ, khiến việc truy vết gặp nhiều khó khăn. Nhiều website đặt máy chủ tại nước ngoài nhằm tránh các biện pháp xử lý pháp lý từ cơ quan chức năng trong nước. Khi bị phát hiện hoặc ngăn chặn, các trang vi phạm có thể nhanh chóng thay đổi tên miền, địa chỉ IP hoặc chuyển sang hạ tầng kỹ thuật mới để tiếp tục hoạt động.

Một thủ đoạn đáng chú ý khác là khả năng sao chép toàn bộ giao diện, dữ liệu và cấu trúc vận hành của website. Nhờ các công cụ tự động hóa, nhiều trang web có thể được khôi phục hoặc dựng lại chỉ trong thời gian rất ngắn sau khi bị chặn, khiến công tác xử lý trở nên khó khăn và tốn nhiều nguồn lực.
Theo ông Hoàng Đình Chung, những phương thức trên cho thấy các tổ chức vi phạm bản quyền không còn hoạt động theo kiểu tự phát mà đã vận hành như một doanh nghiệp có tổ chức, có sự đầu tư về công nghệ, nhân lực và chiến lược đối phó với cơ quan quản lý.

Thực tế này đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận trong công tác bảo vệ bản quyền số. Việc phát hiện một website vi phạm và tiến hành chặn truy cập đơn lẻ chỉ mang tính chất xử lý phần ngọn, khó có thể giải quyết triệt để vấn đề. Nếu không có biện pháp đồng bộ, các đối tượng có thể nhanh chóng phục hồi hoạt động dưới tên miền hoặc hạ tầng kỹ thuật mới.
Ông Hoàng Đình Chung nhấn mạnh, cuộc chiến chống vi phạm bản quyền số không còn đơn thuần là việc gỡ bỏ một website hay chặn một đường dẫn cụ thể, mà cần hướng tới việc nhận diện, bóc gỡ và triệt phá toàn bộ hệ sinh thái vi phạm được tổ chức bài bản phía sau. Chỉ khi có sự phối hợp đồng bộ giữa công nghệ, pháp luật và các chủ thể trên môi trường số, công tác bảo vệ bản quyền mới có thể đạt hiệu quả bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Thách thức mới với pháp luật sở hữu trí tuệ
Nếu như trước đây, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ chủ yếu diễn ra dưới dạng hàng giả truyền thống, sao chép nhãn hiệu hoặc buôn bán thủ công nhỏ lẻ, thì sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh và các nền tảng số đang đặt ra những thách thức mới đối với công tác bảo vệ bản quyền và sở hữu trí tuệ.
Chia sẻ về vấn đề này, luật sư Nguyễn Văn Hà cho rằng, sự chuyển dịch từ môi trường thực tế sang môi trường số, đặc biệt với sự bùng nổ của AI tạo sinh đang đặt hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ trước những thách thức mang tính thời đại, vượt ra ngoài các tư duy pháp lý truyền thống.

Theo luật sư Nguyễn Văn Hà, hiện nay nổi lên ba thách thức lớn trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Đó là thách thức trong việc định danh “chủ thể quyền”. Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định quyền tác giả chỉ được bảo hộ đối với các tác phẩm do con người trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ. Tuy nhiên, với AI tạo sinh, chỉ cần vài câu lệnh (prompt), người dùng có thể tạo ra một bức tranh, bài viết hoặc đoạn nhạc chỉ trong vài giây. Từ đó đặt ra câu hỏi về chủ thể sở hữu bản quyền của sản phẩm: Là người viết câu lệnh, người lập trình ra AI hay chính hệ thống AI? Đây được xem là khoảng trống pháp lý lớn cần tiếp tục hoàn thiện.
Tiếp đó là hành vi xâm phạm diễn ra tự động từ “đầu vào” dữ liệu. Để có thể tạo ra các sản phẩm thông minh, các mô hình AI cần được “huấn luyện” bằng khối lượng dữ liệu rất lớn, trong đó có nhiều tác phẩm âm nhạc, văn học, hội họa đã được bảo hộ bản quyền. Việc các công ty công nghệ khai thác và sử dụng những dữ liệu này để huấn luyện AI mà không xin phép hoặc không trả phí cho tác giả đang đặt ra bài toán tranh chấp bản quyền phức tạp.
Và cuối cùng tốc độ lan truyền hệ quả và tính chất xuyên biên giới của hành vi vi phạm. Nếu trước đây, một vụ làm giả nhãn hiệu hay in lậu sách thủ công mất nhiều tuần để sản xuất, phân phối và chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp, thì nay một tác phẩm bị sao chép hoặc chỉnh sửa bằng AI có thể được phát tán tới hàng triệu người dùng trên toàn cầu chỉ sau một cú nhấp chuột. Việc truy tìm nguồn gốc vi phạm, ngăn chặn phát tán và chứng minh thiệt hại thực tế của chủ sở hữu quyền trên không gian mạng vì thế trở nên vô cùng khó khăn, tốn kém.
Từ thực tế này, luật sư Nguyễn Văn Hà nhấn mạnh, công nghệ đang phát triển nhanh hơn luật pháp. Những thách thức mới đòi hỏi cần sớm có các hướng dẫn pháp lý cụ thể đối với các sản phẩm liên quan đến AI. Đồng thời, để bảo vệ bản quyền trong thời đại số, cần ứng dụng chính công nghệ như các thuật toán rà quét tự động, blockchain để hỗ trợ lực lượng thực thi pháp luật.
Mất cân xứng rõ rệt giữa bên bảo vệ và bên xâm phạm bản quyền

Thực tế đang cho thấy, vi phạm có tính xuyên biên giới, ẩn danh và tận dụng công nghệ để thu lợi lớn từ quảng cáo, dữ liệu và lưu lượng người dùng. Điều này gây thiệt hại nghiêm trọng cho các doanh nghiệp sáng tạo nội dung, các cơ quan báo chí, truyền hình và chủ sở hữu quyền, làm suy giảm động lực đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp văn hóa.
Về vấn đề này, ông Hoàng Đình Chung cho biết, trong thời đại công nghệ và AI, đang có sự mất cân xứng rõ rệt giữa bên bảo vệ và bên xâm phạm bản quyền thông qua "hai cái dễ" và "hai cái khó".

Cụ thể, hai cái khó (bên xâm phạm): Trên môi trường số, kẻ xấu dễ dàng dùng các công cụ kỹ thuật để đánh cắp bản quyền và cũng rất thuận lợi trong việc tìm kiếm môi trường kinh doanh, tiêu thụ các sản phẩm đánh cắp đó để trục lợi.
Còn hai cái dễ (dành cho bên bảo vệ): Việc bảo vệ và thực thi bản quyền vô cùng khó khăn đối với các chủ sở hữu quyền và các cơ quan quản lý nhà nước. Đây chính là thực trạng nan giải đang diễn ra trong bối cảnh công nghệ phát triển như hiện nay.
Đấu tranh quyết liệt, xử lý nghiêm vi phạm bản quyền
Luật sư Nguyễn Văn Hà, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Luật gia thành phố Hà Nội đánh giá cao sự vào cuộc quyết liệt của các lực lượng chức năng thời gian qua trong xử lý xâm phạm bản quyền.
Luật sư nhấn mạnh, quan điểm của Đảng và Nhà nước là xử lý không có vùng cấm và không có ngoại lệ trong xâm phạm sở hữu trí tuệ. Đây là một trong những quan điểm mang tính triệt để nhằm xử lý các hành vi vi phạm. Đó cũng là một trong những nhân tố tích cực để tạo ra chuyển biến tích cực. Trong một khoảng thời gian không dài (ba tuần), các lực lượng đã xử lý 28 vụ án hình sự. Đây là những biện pháp rất kịp thời trong quá trình xử lý tội phạm liên quan đến xâm phạm bản quyền.

Nếu như trước đây thường có tâm lý xem nhẹ vi phạm sở hữu trí tuệ, coi đó chỉ là tranh chấp dân sự, chỉ bị xử phạt hành chính. Tức là tồn tại nếp nghĩ, nếu tranh chấp xảy ra thì bồi thường trả, hoàn trả một khoản tiền, mất một khoản tiền nộp vào ngân sách nhà nước rồi mọi thứ đâu lại vào đó và lại tiếp tục hành vi tái diễn.
Nhưng khi hành vi vi phạm đã chuyển dịch thành các mạng lưới tội phạm mạng có tổ chức, cấp độ cao hơn thì việc áp dụng các chế tài nghiêm khắc của Bộ luật Hình sự là chính xác, đúng pháp luật và tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi. Điều đó cũng tạo ra những hiệu ứng quan trọng trong chính sách xử lý đối với những hành vi xâm phạm bản quyền này.

Ông Nguyễn Văn Hà nêu, sự đấu tranh quyết liệt với vi phạm sẽ tạo chuyển biến căn bản về nhận thức và xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh. Bởi, nếu một doanh nghiệp đầu tư cho một sản phẩm chất lượng, mà sản phẩm đó bị làm nhái, bị làm giả hoặc bị xâm phạm bản quyền thì doanh nghiệp sẽ không dám đầu tư. Khi không dám đầu tư thì cơ hội để phát triển đất nước, phát triển các ngành nghề kinh tế sẽ bị mất đi.
“Vì vậy kiên quyết xử lý những hành vi vi phạm chính là tiền đề minh bạch hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội”, luật sư Nguyễn Văn Hà bày tỏ.
Bảo vệ bản quyền số cần hài hòa lợi ích giữa chủ sở hữu, nền tảng và người dùng
Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, bảo vệ bản quyền không còn là vấn đề riêng của cơ quan quản lý hay các đơn vị nắm giữ nội dung, mà đã trở thành bài toán liên quan trực tiếp đến toàn bộ hệ sinh thái số.
Theo ông Hoàng Đình Chung, Giám đốc Trung tâm Bản quyền số (Hội Truyền thông số Việt Nam), việc xây dựng chính sách quản lý cần bảo đảm sự cân bằng giữa ba chủ thể quan trọng gồm chủ sở hữu nội dung, nền tảng trung gian và người dùng.
Ông Hoàng Đình Chung cho rằng, đối với các chủ sở hữu nội dung, yêu cầu quan trọng nhất là quyền và lợi ích hợp pháp phải được bảo vệ một cách thực chất. Nếu các tác phẩm, sản phẩm sáng tạo liên tục bị sao chép, phát tán trái phép mà không được ngăn chặn hiệu quả, doanh nghiệp và người sáng tạo sẽ mất động lực đầu tư lâu dài.
Trong khi đó, các nền tảng trung gian đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong việc phân phối và kiểm soát nội dung trên môi trường số.

"Cần xác định rõ trách nhiệm của các nền tảng trong việc phát hiện, tiếp nhận và xử lý các hành vi vi phạm bản quyền. Tuy nhiên, chính sách quản lý cũng phải tránh tạo ra áp lực quá lớn khiến các nền tảng buộc phải áp dụng các biện pháp kiểm duyệt cực đoan chỉ để giảm thiểu rủi ro pháp lý. Thay vào đó, cần xây dựng cơ chế minh bạch trong quá trình xác minh, xử lý khiếu nại và bảo đảm quyền phản hồi của các bên liên quan", ông Hoàng Đình Chung chia sẻ.
Đối với người dùng, cần nhìn nhận rằng họ không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin mà còn có thể trở thành những nhà sáng tạo nội dung trên không gian mạng. Vì vậy, các quy định về bản quyền cần bảo đảm quyền tiếp cận thông tin hợp pháp, quyền sử dụng hợp lý các tác phẩm, đồng thời không cản trở các hoạt động sáng tạo được pháp luật cho phép.

Theo ông Hoàng Đình Chung, thực tế cho thấy, nếu chính sách quản lý quá thiên lệch về một phía sẽ dễ dẫn tới mất cân bằng. Việc buông lỏng quản lý có thể khiến vi phạm bản quyền lan rộng, làm suy yếu thị trường nội dung hợp pháp. Ngược lại, nếu siết chặt quá mức hoặc trao quyền quá lớn cho các công cụ tự động xử lý vi phạm, nguy cơ lạm dụng “gậy bản quyền” có thể xuất hiện, ảnh hưởng đến cả người dùng lẫn những chủ thể sở hữu quyền hợp pháp.
Một hệ sinh thái nội dung số chỉ có thể phát triển bền vững khi quyền lợi của chủ sở hữu nội dung, trách nhiệm của nền tảng trung gian và quyền tiếp cận hợp pháp của người dùng được bảo đảm hài hòa, cân bằng và minh bạch. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên số.
7.000 tỷ đồng mỗi năm do vi phạm bản quyền chỉ là "phần nổi của tảng băng chìm"
Luật sư Nguyễn Văn Hà cho biết, nhiều doanh nghiệp cho rằng, thiệt hại lớn nhất từ xâm phạm sở hữu trí tuệ không phải là mất doanh thu trước mắt mà là làm giảm động lực đầu tư cho nghiên cứu, sáng tạo và đổi mới công nghệ.
Luật sư Nguyễn Văn Hà đồng tình với quan điểm này và cho rằng, con số thiệt hại khoảng 7.000 tỷ đồng mỗi năm do vi phạm bản quyền mới chỉ là "phần nổi của tảng băng chìm". Hệ lụy lớn nhất và nguy hiểm nhất của việc không có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu là làm giảm động lực sáng tạo trí tuệ, thể hiện qua ba khía cạnh lớn.
Đầu tiên là sự sụt giảm dòng tiền đầu tư vào sản phẩm trí tuệ. Việc nghiên cứu phát triển đòi hỏi nguồn lực khổng lồ về tài chính, thời gian và công sức. Nếu doanh nghiệp đối mặt với nguy cơ sản phẩm vừa ra mắt đã bị sao chép, đánh cắp, họ sẽ không dám mạo hiểm đầu tư, từ đó dập tắt nguồn cảm hứng sáng tạo.

Thứ hai là nguy cơ chảy máu chất xám. Hành lang pháp lý chưa đủ mạnh để bảo đảm tính minh bạch và bảo hộ tài sản trí tuệ sẽ dẫn đến việc rò rỉ các thành quả công nghệ cốt lõi giữa các doanh nghiệp, gây thất thoát tài năng và chất xám.
Thứ ba là suy giảm năng lực cạnh tranh quốc gia. Khi doanh nghiệp không dám đầu tư và chất xám bị chảy máu, sức cạnh tranh của quốc gia sẽ suy yếu. Đối với các nhà đầu tư quốc tế, môi trường bảo hộ sở hữu trí tuệ ở cấp độ cao là điều kiện then chốt để họ an tâm rót vốn. Nếu hệ thống pháp lý lỏng lẻo, việc thu hút đầu tư nước ngoài sẽ rất khó khăn.
“Từ thực tiễn đó, Việt Nam cần rút ra bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng hành lang pháp lý và các văn bản hướng dẫn về sở hữu trí tuệ. Việc thiết lập một cơ chế chặt chẽ nhằm tối thiểu hóa rủi ro vi phạm là yếu tố quyết định để khơi thông nguồn lực, thu hút dòng vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước”, luật sư Nguyễn Văn Hà khẳng định.
"Muốn giảm vi phạm bản quyền phải thay đổi tư duy dùng miễn phí"
Theo luật sư Nguyễn Văn Hà, cần xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ, kết hợp giữa hoàn thiện hành lang pháp lý, ứng dụng công nghệ, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp và thay đổi nhận thức của người tiêu dùng nhằm tạo nền tảng vững chắc cho công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Đồng tình với quan điểm cần xây dựng hệ thống giải pháp tổng thể, đồng bộ giữa pháp lý, truyền thông, công nghệ và phân phối, luật sư Nguyễn Văn Hà cho rằng, trong thời đại công nghệ số hiện nay, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quy kết hoặc xử lý đối với hành vi xâm phạm bản quyền là một điều rất khó khăn. Do vậy, cần phải có biện pháp phối hợp tổng thể, mang tính hài hòa, tạo ra sự kết nối, lúc đó mới có thể xử lý được.

Theo luật sư Nguyễn Văn Hà, trước tiên cần ban hành, rà soát các quy định của pháp luật, hoàn thiện để tạo hành lang pháp lý vững chắc trong quá trình xử lý, đấy là yêu cầu bắt buộc. Sau đó là trách nhiệm của các doanh nghiệp, các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong quá trình xây dựng liên quan đến sản phẩm sở hữu trí tuệ, cần rà soát để bảo đảm an toàn cho công nghệ của chính chúng ta.

Bên cạnh đó là công tác truyền thông, tạo sự đồng thuận cao, truyền thông tới người tiêu dùng. Tâm lý người tiêu dùng thường là dùng miễn phí thì bây giờ phải dần dần thay đổi tư duy. Bởi lẽ, sản phẩm chúng ta đang hưởng thụ là sản phẩm trí tuệ của tác giả.
"Cần thực hiện trách nhiệm của người tiêu dùng một cách nghiêm túc, phải trả một phần phí. Theo đó, dần dần tình trạng liên quan đến xâm phạm bản quyền sẽ giảm. Nếu công tác truyền thông tốt thì chắc chắn tình trạng xâm phạm bản quyền sẽ giảm đi", luật sư Nguyễn Văn Hà khẳng định.
Xử lý nghiêm vi phạm bản quyền, tạo động lực sáng tạo cho tác giả
Chia sẻ về việc thời gian qua lực lượng chức năng khởi tố một số đối tượng liên quan đến hành vi xâm phạm bản quyền, sở hữu trí tuệ, nhạc sĩ An Hiếu cho biết, giới sáng tác nghệ thuật đánh giá cao động thái quyết liệt này. Đặc biệt, sau khi Chỉ thị số 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ được ban hành, các cơ quan chức năng đã vào cuộc mạnh mẽ, thể hiện quyết tâm tăng cường thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ. Theo nhạc sĩ An Hiếu, việc xử lý các trường hợp vi phạm, kể cả những cá nhân có ảnh hưởng trong lĩnh vực giải trí, là dấu mốc quan trọng góp phần nâng cao nhận thức xã hội về bản quyền và quyền sở hữu trí tuệ.
Khoảng trống kết nối khiến nhiều nhạc sĩ bị thất thoát quyền lợi

Nhạc sĩ An Hiếu cho rằng, trước đây, có quan điểm rằng, xâm phạm bản quyền âm nhạc đơn thuần là vấn đề nghệ thuật hay tranh chấp dân sự. Nhưng giờ đây, dưới lăng kính pháp luật, mọi người đều phải tuân thủ quy định về sở hữu trí tuệ và bản quyền. Người tổ chức, người thực hiện và người kinh doanh sản phẩm âm nhạc phải xem lại mình, xem lại các bước tiến hành đã đúng pháp luật chưa. Và, chắc chắn rằng, nghệ sĩ sẽ được thụ hưởng rất nhiều lợi ích từ những tác động của Chỉ thị 02/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Nhạc sĩ An Hiếu cho biết thêm, nhạc sĩ, người sáng tác tác phẩm âm nhạc không phải ai cũng dễ dàng tiếp cận với công nghệ, nền tảng số và nhiều người không biết cách khai thác trên không gian này. Người lớn tuổi sáng tác ra một tác phẩm, họ rất vui, hạnh phúc khi tác phẩm được biểu diễn, nhiều người hát. Nhưng họ không nghĩ rằng, với bài hát này sẽ được doanh thu bao nhiêu và tiền quảng cáo như thế nào.
Ngày nay, tác phẩm sáng tác không đơn giản mang giá trị tinh thần mà mang giá trị về kinh tế có thể nhìn thấy được. Ở đây, còn thiếu một góc độ đối thoại, một kênh liên lạc giữa các công ty khai thác về quyền lợi cùng với các nhạc sĩ.
Các công ty đã lợi dụng được khoảng trống trung gian để khai thác triệt để bản quyền tác giả. Các nghệ sĩ không có kênh để liên lạc, người nhạc sĩ cũng không hoàn toàn nắm được sản phẩm của mình trôi nổi ở đâu, biểu diễn ở đâu và ai nghe, nghe như thế nào hằng ngày.
“Tôi nghĩ, phải nâng cao dữ liệu trên nền tảng số. Bây giờ, thế giới mở, sản phẩm âm nhạc không chỉ sử dụng ở Việt Nam mà còn mang giá trị toàn cầu”, nhạc sĩ An Hiếu nhấn mạnh.
Theo nhạc sĩ An Hiếu, cần nhanh chóng kết nối giữa nhà sản xuất, nhạc sĩ, người sáng tác với công ty khai thác và sử dụng. Rõ ràng các bên đều cần đến nhau. Chính sự hợp tác tốt đẹp giữa hai bên khiến khán giả sẽ được thụ hưởng nhiều tác phẩm hay, giá trị thẩm mỹ tốt. Còn nếu chỉ dựa vào những điều luật, những điều cấm, con đường tác phẩm đưa nghệ thuật đến công chúng sẽ bị bóp nghẹt.
Xâm phạm bản quyền làm suy giảm nguồn thu và động lực sáng tác
Nhạc sĩ An Hiếu - người đại diện tất cả các tác phẩm âm nhạc của cha mình là nhạc sĩ An Thuyên chia sẻ những câu chuyện liên quan trực tiếp đến gia đình ông. Sau khi nhạc sĩ An Thuyên qua đời, đã có lúc gia đình phát sinh vướng mắc với Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam vì hai bên chưa hiểu nhau để khai thác hiệu quả nhất tất cả các tác phẩm. Gia đình quyết định rút toàn bộ các tác phẩm để tự mình quản lý.

Sau một thời gian, khi thấy không thể đủ tiềm lực và công nghệ để quản lý các tác phẩm, gia đình ông đã quay lại làm việc với Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam. Từ đó, những tác phẩm của nhạc sĩ An Thuyên được khai thác tốt hơn và gia đình cũng rất tin tưởng sau khi gửi gắm.
Đó là bài học riêng cho gia đình ông và nhiều nhạc sĩ khác cũng nhận ra nên đăng ký và nhờ một đơn vị có uy tín được Nhà nước cho phép hoạt động để quản lý, khai thác tác phẩm trên các nền tảng.
Nhạc sĩ An Hiếu cho rằng, nhiều nhạc sĩ sẽ gặp tình huống đơn vị nào đó khai thác mà không xin phép tác giả, tổn thất dễ nhìn thấy nhất đó là nguồn thu. Tác phẩm hoàn toàn miễn phí, ai sử dụng thế nào, biểu diễn có doanh thu hay không và phục vụ vào mục đích gì, tác giả không nắm được.
"Do vậy, nhạc sĩ bị thiệt thòi vì điều đó; trong khi, để ra được một tác phẩm, một đứa con tinh thần, ngoài chất xám, người nhạc sĩ còn phải phải đầu tư trên nhiều góc độ, vừa tinh thần, vừa vật chất. Bên cạnh đó, người nhạc sĩ phải tổ chức phối khí thu thanh và tất cả các công việc, nhạc sĩ không thể làm được một mình", nhạc sĩ An Hiếu bày tỏ.
"Thời đại AI" đặt ra những thách thức về bản quyền số
Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra nhiều cơ hội cho hoạt động sáng tạo nội dung, nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức chưa từng có đối với công tác bảo vệ bản quyền.
Trao đổi về vấn đề này, ông Hoàng Đình Chung, cho rằng sự phát triển liên tục của công nghệ luôn tạo ra những biến động mới, đòi hỏi hệ thống pháp luật phải thường xuyên được cập nhật để điều chỉnh các hành vi phát sinh và hạn chế khoảng trống pháp lý.
Đây không phải là bài toán riêng của Việt Nam mà là thách thức chung đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng, các cơ quan quản lý luôn phải đối mặt với áp lực hoàn thiện chính sách để vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể sở hữu trí tuệ.

Đánh giá về thực trạng hiện nay, ông Hoàng Đình Chung cho rằng hệ thống pháp luật Việt Nam cơ bản đã theo kịp yêu cầu thực tiễn. Trong những năm gần đây, các cơ quan quản lý nhà nước liên tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện các quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ. Điều này được thể hiện qua các đợt sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ cùng việc ban hành các nghị định hướng dẫn nhằm bảo đảm tính khả thi trong quá trình thực thi.
“Hiệu quả bảo vệ bản quyền không chỉ phụ thuộc vào việc ban hành văn bản pháp luật mà còn đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, kịp thời của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghệ, nền tảng số và các chủ thể liên quan. Đây là yếu tố quan trọng để các quy định pháp luật được triển khai hiệu quả trong thực tế”, ông Chung nhận định.
Đặc biệt, sự xuất hiện của AI đang đặt ra nhiều vấn đề mới cần tiếp tục được nghiên cứu và làm rõ. Một trong những câu hỏi lớn hiện nay là cách xác định quyền và lợi ích của tác giả đối với các dữ liệu được sử dụng để huấn luyện mô hình AI. Bên cạnh đó, việc xác định quyền tác giả đối với những sản phẩm có sự tham gia của AI trong quá trình sáng tạo cũng đang là chủ đề được quan tâm tại nhiều quốc gia.
Theo ông Hoàng Đình Chung, đây là những nội dung đã được các doanh nghiệp công nghệ, đơn vị sáng tạo nội dung số và giới chuyên gia tích cực đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.