Cảng nước sâu Hòn Khoai mở triển vọng kết nối hàng hóa từ cực Nam ra biển lớn, nhưng hiệu quả khai thác sẽ phụ thuộc vào nguồn hàng, mạng lưới vận tải và dịch vụ hậu cần.
Hòn Khoai và kỳ vọng mở rộng không gian kinh tế biển
Cà Mau đang đứng trước cơ hội thay đổi vị thế trong mạng lưới vận tải biển khi Cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai được đầu tư cùng tuyến đường kết nối từ đất liền. Tuy nhiên, quy mô công trình mới là điểm khởi đầu của bài toán khai thác.
Theo Quyết định số 568/QĐ-UBND phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Cà Mau thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050, Hòn Khoai được xác định là cực tăng trưởng kinh tế biển gắn với yêu cầu quốc phòng, an ninh. Trọng tâm là cảng tổng hợp lưỡng dụng có định hướng tiếp nhận tàu đến 250.000 DWT, công suất khoảng 20 triệu tấn mỗi năm. Những thông số này thể hiện năng lực theo quy hoạch, chưa phải sản lượng hàng hóa đã thông qua cảng.
Điểm đáng chú ý nằm ở sự kết hợp giữa cảng nước sâu và hành lang vận tải trên đất liền. Tuyến đường ra đảo Hòn Khoai được đầu tư để kết nối với trục cao tốc hướng về Đất Mũi, trong khi quy hoạch tỉnh còn đề cập hệ thống cảng Năm Căn, Ông Đốc, trung tâm logistics và cảng cạn tại Đất Mũi. Cách tổ chức ấy cho thấy cảng không thể hoạt động tách rời các vùng sản xuất và mạng lưới vận chuyển nội địa.
Theo thông tin từ cơ quan chức năng, đến giữa tháng 10-2026, dự án cảng giải ngân 4.424 tỷ đồng, đạt 55,3% kế hoạch vốn được báo cáo; dự án đường ra đảo giải ngân hơn 1.332 tỷ đồng, tương đương 6,34% theo kế hoạch vốn riêng. Đây là số tiền đã giải ngân, không phản ánh tỷ lệ hoàn thành xây dựng hay thời điểm cảng sẵn sàng tiếp nhận tàu thương mại.

Đối với kinh tế Cà Mau, thủy sản chế biến là nguồn cầu vận tải cần được phân tích. Sở Công Thương cho biết, trong 9 tháng năm 2026, sản lượng tôm và các thủy sản khác qua chế biến đạt 305.288 tấn, tăng 16,78% so với cùng kỳ. Quy mô hoạt động ấy cho thấy nhu cầu nguyên liệu, kho lạnh, vận tải và xuất khẩu, nhưng không đồng nghĩa toàn bộ sản lượng sẽ được chuyển qua Hòn Khoai.
Cơ hội lớn hơn nằm ở khả năng tổ chức lại đường đi của hàng hóa. Khi các tuyến kết nối hoàn thiện, doanh nghiệp có thêm lựa chọn giữa vận chuyển đường bộ đến những cảng ngoài tỉnh với phương án tập kết, đưa hàng đến đầu mối vận tải biển gần vùng sản xuất hơn. Phương án nào hiệu quả còn phụ thuộc chi phí trọn tuyến, lịch tàu, dịch vụ cảng và yêu cầu giao nhận của khách hàng.
Không chỉ phục vụ riêng Cà Mau, cảng Hòn Khoai còn được kỳ vọng tham gia mạng lưới vận tải hàng hóa của Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là khu vực có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, thủy sản và công nghiệp chế biến, với nhu cầu kết nối ngày càng lớn giữa vùng nguyên liệu, nhà máy và thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, lợi thế vị trí địa lý chỉ thực sự phát huy khi được chuyển hóa thành năng lực vận tải và dịch vụ. Một cảng có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lớn sẽ chưa đủ sức cạnh tranh nếu thiếu nguồn hàng ổn định, hạ tầng kết nối đồng bộ và hệ thống dịch vụ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp.
Vì vậy, câu hỏi quan trọng không chỉ là Hòn Khoai có thể tiếp nhận tàu lớn đến đâu, mà là hàng hóa của những ngành nào, từ những địa bàn nào sẽ sử dụng cảng một cách thường xuyên.
Từ công trình cảng biển đến trung tâm logistics
Để trở thành đầu mối logistics, Hòn Khoai trước hết phải hình thành được thị trường dịch vụ vận tải và hậu cần, thay vì chỉ tập trung vào quy mô cầu bến. Chủ hàng lựa chọn tuyến vận chuyển dựa trên tổng chi phí giao hàng, thời gian và tần suất chuyến. Cảng tiếp nhận tàu lớn vẫn khó tạo lợi thế nếu hàng hóa phải chờ đợi hoặc trung chuyển nhiều lần.
Với thủy sản xuất khẩu, từ nhà máy đến tàu biển, sản phẩm cần được bảo quản đúng nhiệt độ, kiểm soát chứng từ và giao đúng hạn. Vì vậy, vùng hậu phương cảng cần có hệ thống gom hàng, kho lạnh, dịch vụ container, kiểm dịch, hải quan và doanh nghiệp giao nhận.
Quy hoạch trung tâm logistics và cảng cạn tại Đất Mũi, kết nối Khu kinh tế Năm Căn, tạo cơ sở tổ chức chuỗi dịch vụ nhiều tầng. Điểm tập kết gần vùng nguyên liệu đảm nhiệm gom hàng; trung tâm logistics phụ trách lưu kho, phân loại và phối hợp vận tải trước khi đưa ra cảng.

Một yếu tố khác là khả năng hình thành nguồn hàng hai chiều. Bên cạnh hàng xuất khẩu, nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu và vật tư phục vụ sản xuất cũng cần được tính toán. Cơ cấu hàng hóa đa dạng có thể góp phần nâng hiệu quả khai thác phương tiện, hạn chế tình trạng vận chuyển một chiều.
Khả năng thu hút các doanh nghiệp khai thác cảng, hãng tàu và nhà cung cấp dịch vụ logistics sẽ quyết định bước chuyển từ đầu tư hạ tầng sang vận hành thương mại. Trong định hướng thu hút đầu tư, Cà Mau đã có những hoạt động trao đổi, nghiên cứu cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp lớn, trong đó có Tập đoàn T&T, liên quan đến cảng Hòn Khoai và phát triển dịch vụ logistics.
Tuy nhiên, các hoạt động tìm hiểu, nghiên cứu hợp tác mới chỉ thể hiện sự quan tâm của nhà đầu tư, chưa đồng nghĩa với việc hình thành hợp đồng khai thác hoặc các tuyến vận tải thương mại cụ thể.
Để thu hút doanh nghiệp tham gia lâu dài, việc xây dựng phương án khai thác cần làm rõ cơ chế quản lý cảng lưỡng dụng, điều kiện sử dụng hạ tầng, tổ chức dịch vụ hậu cần và khả năng kết nối với hệ thống giao thông trong khu vực. Hoạt động thương mại phải phù hợp yêu cầu quốc phòng, an ninh, đồng thời tạo môi trường ổn định để chủ hàng và hãng tàu xây dựng kế hoạch kinh doanh.
Bên cạnh hạ tầng, nguồn nhân lực cũng là điều kiện không thể thiếu. Cà Mau đang quan tâm phát triển các ngành đào tạo liên quan đến logistics, quản lý và khai thác cảng. Việc chuẩn bị đội ngũ nhân lực chuyên môn cần gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, từ điều độ vận tải, quản trị kho bãi đến vận hành thiết bị và tổ chức dịch vụ hàng hải.
Về lâu dài, hiệu quả của Hòn Khoai cần được đánh giá bằng lượng hàng thực tế thông qua cảng, số tuyến vận tải, thời gian giao nhận, chi phí logistics của doanh nghiệp và mức độ khai thác hạ tầng. Những chỉ tiêu này mới phản ánh khả năng chuyển hóa lợi thế đầu tư thành giá trị kinh tế.
Cảng Hòn Khoai có cơ hội trở thành cửa ngõ vận tải biển quan trọng của vùng cực Nam, mở rộng lựa chọn logistics và thu hút các doanh nghiệp dịch vụ. Song, một trung tâm logistics không chỉ hình thành từ quy mô công trình. Giá trị thực sự của cảng sẽ được khẳng định khi nguồn hàng ổn định, các tuyến vận tải được kết nối và hệ thống dịch vụ vận hành hiệu quả, tạo thêm sức cạnh tranh cho sản xuất, thương mại và xuất khẩu của Cà Mau.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.