Việc thành phố Hà Nội công bố danh mục 30 bài toán lớn giai đoạn 2026-2030 để đặt hàng giới khoa học được kỳ vọng là bước chuyển chiến lược, mở ra cơ chế đột phá để khai thác "mỏ vàng" tri thức. Báo Hànộimới đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Phạm Minh Anh - Hiệu trưởng Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong TP Hà Nội về vấn đề này.
Khai mở nguồn lực từ những cơ chế vượt trội

- Thưa ông, Hà Nội có lợi thế đặc biệt khi là nơi hội tụ hơn 70% tổ chức khoa học -công nghệ, trường đại học, viện nghiên cứu lớn nhất cả nước, cùng hơn 60% đội ngũ trí thức, nhà khoa học hàng đầu. Hà Nội cần làm gì để tận dụng, huy động nguồn lực này, tham gia giải quyết các bài toán lớn?
- Hà Nội đang sở hữu một “mỏ vàng” tri thức mà không địa phương nào có được. Nhưng “mỏ vàng” chỉ có giá trị khi được khai thác. Theo tôi, vấn đề không nằm ở chỗ thiếu nhà khoa học, mà ở chỗ thiếu một “cơ chế dẫn nối” để tri thức học thuật đi vào quyết sách và quyết sách quay trở lại nuôi dưỡng nghiên cứu.
Nay thời cơ đã rất thuận lợi. Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới đặt mục tiêu Hà Nội dẫn đầu cả nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đến năm 2045 trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu. Luật Thủ đô năm 2026 trao cho thành phố 199 thẩm quyền đặc thù, vượt trội, trong đó có cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng và dành 4% tổng chi ngân sách cho khoa học, công nghệ. Thành phố cũng đã công bố 30 “bài toán lớn” giai đoạn 2026-2030 để đặt hàng giới khoa học. Đây là một bước chuyển rất đáng ghi nhận, từ “xin ý kiến” sang “đặt hàng tri thức”.
Để việc huy động thực sự thực chất, tôi cho rằng Hà Nội cần làm tốt 4 việc. Trước hết cần đặt đúng bài toán. Danh mục 30 bài toán lớn nên được chi tiết hóa thành các “bài toán con” có đầu ra đo đếm được, có đơn vị chủ quản sẵn sàng tiếp nhận kết quả.
Hai là mở dữ liệu. Nhà khoa học không thể đưa ra khuyến nghị chính sách tốt nếu không tiếp cận được dữ liệu quản lý. Thành phố nên có cơ chế chia sẻ dữ liệu có kiểm soát cho các nhóm nghiên cứu nhận đặt hàng.
Ba là trả công theo kết quả. Áp dụng triệt để cơ chế khoán chi của Luật Thủ đô, đánh giá bằng mức độ được ứng dụng, không chỉ bằng biên bản nghiệm thu.
Cuối cùng, cần có đầu mối kết nối, cần một thiết chế đóng vai trò “cầu nối” giữa nhà quản lý và nhà khoa học, để tri thức không dừng lại trong báo cáo.
Ở mắt xích cuối cùng này, tôi nghĩ Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong có lợi thế riêng. Mỗi năm, hàng nghìn lượt cán bộ của thành phố và của 126 xã, phường đến học tại Trường. Đó vừa là nơi phát hiện bài toán từ cơ sở, vừa là nơi chuyển giao lời giải đến chính những người sẽ thực thi. Tri thức của các viện, trường chỉ trở thành năng lực quản trị khi nó được “ngấm” vào đội ngũ cán bộ.
-Theo ông việc kết hợp giữa các đơn vị của thành phố cùng các viện, trường trong đặt hàng nghiên cứu hiện còn vướng mắc ở đâu và cần tháo gỡ như thế nào?
- Từ góc độ vừa làm quản lý, vừa tham gia nhiều đề tài cấp thành phố, cấp bộ và cấp quốc gia, tôi thấy có năm “điểm nghẽn” chính. Một là “đặt hàng” nhưng chưa thật sự là đặt hàng. Nhiều nhiệm vụ vẫn do nhà khoa học tự đề xuất rồi đơn vị quản lý phê duyệt. Bài toán được đặt ra còn chung chung, thiếu tiêu chí đầu ra và thiếu “người nhận hàng” cụ thể.
Hai là độ vênh về thời gian. Quy trình xác định nhiệm vụ, tuyển chọn, nghiệm thu có khi kéo dài vài năm. Trong khi đó nhà quản lý cần câu trả lời trong vài tháng. Khi kết quả ra đời, bối cảnh đã khác, nhất là trong giai đoạn bộ máy vừa sắp xếp lại theo mô hình hai cấp.
Ba là cơ chế tài chính nặng về thủ tục. Nhà khoa học phải dành nhiều công sức cho chứng từ, định mức thay vì cho nghiên cứu.
Bốn là thiếu dữ liệu và thiếu đầu mối đối thoại. Nhà nghiên cứu khó tiếp cận dữ liệu quản lý; trong quá trình thực hiện cũng ít có trao đổi thường xuyên với đơn vị đặt hàng.
Năm là kết quả “nằm ngăn kéo”. Nghiệm thu xong là kết thúc, chưa có chế tài về trách nhiệm ứng dụng, cũng chưa đo lường được kết quả đã thay đổi chính sách đến đâu.
Tin vui là nhiều nút thắt này đã có công cụ để tháo gỡ. Luật Thủ đô năm 2026 cho phép khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, đơn vị hoàn thành nhiệm vụ mà tiết kiệm được kinh phí thì được giữ lại. Thành phố cũng đã công bố danh mục 30 bài toán lớn và có chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh làm luận án về các bài toán này. Theo tôi, cần thêm mấy việc: Mỗi nhiệm vụ đặt hàng phải có “bên đặt hàng” chịu trách nhiệm tiếp nhận và báo cáo việc sử dụng kết quả; có luồng “nghiên cứu nhanh” 3-6 tháng cho các vấn đề cấp bách, song song với các đề tài dài hạn. Đồng thời, cử cán bộ của đơn vị đặt hàng tham gia nhóm nghiên cứu ngay từ đầu, để lời giải vừa có cơ sở khoa học, vừa khả thi; đánh giá đề tài bằng chỉ số ứng dụng sau 12-24 tháng, không chỉ tại thời điểm nghiệm thu.
Tháo gỡ điểm nghẽn và thiết lập chu trình chính sách khép kín

- Để thu hút các nhà khoa học, các viện, trường tham gia nghiên cứu, giải quyết các bài toán của thành phố, Hà Nội cần thêm những giải pháp gì thời gian tới, thưa ông?
- Nhà khoa học cần ba thứ: một bài toán đáng giải, điều kiện để giải và niềm tin rằng lời giải sẽ được dùng. Đãi ngộ rất quan trọng, nhưng với người làm khoa học chân chính, điều thu hút họ nhất là thấy tri thức của mình làm thay đổi cuộc sống. Từ đó, tôi đề xuất năm nhóm giải pháp. Một là cụ thể hóa nhanh các thẩm quyền của Luật Thủ đô. Luật đã cho phép HĐND Thành phố quyết định mức lương, thưởng, hỗ trợ nhà ở… theo giá trị thị trường; cho phép ký hợp đồng với chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước làm “Tổng công trình sư”, được tự chọn êkip. Cần sớm có văn bản hướng dẫn để cơ chế này đi vào cuộc sống, và nên mở rộng cho cả lĩnh vực khoa học xã hội, quản trị công chứ không chỉ khoa học kỹ thuật.
Hai là coi trọng đúng mức khoa học xã hội và chính sách. Nhiều “bài toán lớn” của Thủ đô như ùn tắc, ô nhiễm hay trật tự đô thị không chỉ là bài toán công nghệ. Đó còn là bài toán về hành vi người dân, về thiết kế thể chế và về năng lực thực thi. Khoa học xã hội cần có vị trí xứng đáng trong danh mục đặt hàng.
Ba là phát huy chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh. Chính sách của thành phố hỗ trợ nghiên cứu sinh có luận án gắn với bài toán của Thủ đô là rất trúng. Là người thường xuyên hướng dẫn và phản biện luận án, tôi thấy đây là lực lượng nghiên cứu trẻ, nhiệt huyết và có thời gian đi sâu. Nên mở rộng đối tượng sang cán bộ, công chức của thành phố đang làm nghiên cứu sinh.
Bốn là xây dựng mạng lưới chuyên gia tư vấn của thành phố, theo từng lĩnh vực, có cơ sở dữ liệu chuyên gia, có cơ chế mời tư vấn, phản biện nhanh và trả thù lao tương xứng.
Năm là ghi nhận và công khai giá trị đóng góp. Khi một khuyến nghị chính sách được thành phố tiếp thu, cần ghi nhận tên nhóm nghiên cứu và tính vào kết quả khoa học, tiêu chuẩn chức danh. Đó là “phần thưởng” rất có ý nghĩa với giới học thuật.
Nhà trường sẵn sàng tham gia với vai trò là nơi thử nghiệm, kiểm định các giải pháp chính sách với chính đội ngũ cán bộ sẽ thực thi, trước khi thành phố triển khai rộng.
-Để sự hợp tác giữa Hà Nội và hệ thống viện, trường không mang tính phong trào hay chỉ “gặp nhau” khi có đề tài riêng lẻ, theo ông, thành phố và các cơ sở đào tạo cần thiết lập một cơ chế phối hợp thường xuyên, khép kín như thế nào để nguồn lực tri thức thực sự trở thành nguồn lực góp phần xây dựng chính quyền kiến tạo, phục vụ trong kỷ nguyên mới?
- Để hợp tác không mang tính phong trào, theo tôi cần chuyển từ quan hệ “theo đề tài” sang quan hệ “theo chu trình chính sách”. Tri thức phải có mặt ở tất cả các khâu: từ phát hiện vấn đề, thiết kế chính sách, thí điểm, đào tạo người thực thi, cho đến đánh giá và điều chỉnh. Một chu trình khép kín có thể gồm năm bước. Phát hiện và đặt bài toán: các sở, ngành, xã, phường đề xuất; phản ánh của người dân, doanh nghiệp và của học viên các lớp đào tạo cán bộ được tổng hợp thành danh mục đặt hàng hằng năm.
Nghiên cứu, đề xuất giải pháp: Viện, trường nhận đặt hàng theo cơ chế khoán chi, có cán bộ của đơn vị đặt hàng cùng tham gia.
Thí điểm có kiểm soát: Vận dụng cơ chế thí điểm của Luật Thủ đô tại một số xã, phường hoặc lĩnh vực.
Đào tạo người thực thi: Các nhà trường chuyển kết quả nghiên cứu và bài học thí điểm thành chuyên đề, tình huống để bồi dưỡng cho đội ngũ trực tiếp vận hành.
Đánh giá độc lập và điều chỉnh: Viện, trường đánh giá tác động sau thí điểm; kết quả trở thành căn cứ để nhân rộng, sửa đổi hoặc dừng, đồng thời làm nảy sinh bài toán mới cho chu kỳ sau.
Để chu trình này vận hành bền vững, cần có bốn “chân đế”. Một đầu mối điều phối, có thể là một Hội đồng tư vấn chính sách của thành phố, có thư ký thường trực và lịch làm việc định kỳ.
Thỏa thuận khung dài hạn: Thành phố ký kết hợp tác chiến lược 3-5 năm với các viện, trường trọng điểm theo từng nhóm bài toán, có kế hoạch hằng năm và đánh giá công khai.
Nền tảng số chung: kết nối danh mục bài toán, cơ sở dữ liệu chuyên gia, kết quả nghiên cứu và tình trạng ứng dụng.
Luân chuyển hai chiều: cán bộ quản lý tham gia giảng dạy, nghiên cứu; nhà khoa học, giảng viên được biệt phái ngắn hạn về sở, ngành, xã, phường.
Khi đó, tri thức sẽ không còn là nguồn lực “gọi đâu có đấy”, mà trở thành một bộ phận hữu cơ của chính quyền kiến tạo, phục vụ, đúng với tinh thần Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị và tinh thần “Tiên phong-Đột phá” mà Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XVIII đã xác định.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.