Xã hội

Cần cơ chế nghiêm khắc với lao động Việt Nam vi phạm pháp luật ở nước ngoài

Đình Hiệp 10/08/2026 - 12:43

Sáng 10-8, tiếp tục chương trình kỳ họp không thường lệ thứ nhất, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Liên thông dữ liệu để quản lý người lao động ở nước ngoài

dai-3.jpg
Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Ảnh: Quochoi.vn

Thảo luận tại hội trường, đại biểu Trần Đình Gia (Đoàn Hà Tĩnh) cho biết, tại Hà Tĩnh, người đang lao động ở nước ngoài, theo nhiều hình thức, như đi làm việc theo hợp đồng, thăm người thân, chữa bệnh hoặc du học, sau đó tham gia thị trường lao động ở nước sở tại.

Theo đại biểu, thực tế tại Hà Tĩnh đang đặt ra hai vấn đề đáng quan tâm cần được giải quyết trong lần sửa đổi luật này. Thứ nhất, đại biểu cho biết, có không ít người Hà Tĩnh đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, nhưng sau khi sang nước sở tại được vài tháng lại tự ý chuyển ra ngoài, vi phạm hợp đồng lao động.

Tình trạng này dẫn đến việc một số thị trường lao động không tiếp nhận người lao động đến từ một số địa phương của Hà Tĩnh, cũng như một số tỉnh miền Trung. Theo đại biểu, điều này không chỉ ảnh hưởng đến uy tín của địa phương mà còn tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của rất nhiều người lao động khác.

Vấn đề thứ hai là mức phí mà người lao động phải chi trả để được đi làm việc tại một số thị trường còn rất cao. Trong khi có những thị trường người lao động không phải đóng phí hoặc mức phí rất thấp, thì tại một số thị trường khác, người lao động phải đóng các khoản tiền lên tới 300-400 triệu đồng, thậm chí có trường hợp lên tới hàng tỷ đồng.

tinh-gia.jpg
Đại biểu Trần Đình Gia (Đoàn Hà Tĩnh) phát biểu thảo luận. Ảnh: Quochoi.vn

Theo đại biểu, để giải quyết những tồn tại nêu trên, việc chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các bộ, ngành, cơ quan và địa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bên cạnh các cơ quan đã được quy định trong dự thảo Luật, đại biểu đề nghị nghiên cứu sự tham gia, chia sẻ thông tin của các ngành như du lịch, y tế và một số cơ quan khác khi có thông tin liên quan đến người Việt Nam ra nước ngoài.

Một nội dung đáng chú ý được đại biểu Trần Đình Gia đề xuất là nghiên cứu cơ chế xử lý nghiêm khắc hơn đối với những người Việt Nam vi phạm pháp luật lao động của nước sở tại. Theo đại biểu, cần nghiên cứu khả năng quy định biện pháp cấm xuất cảnh đối với những trường hợp tham gia lao động ở nước ngoài nhưng vi phạm pháp luật, qua đó góp phần làm lành mạnh thị trường đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Đại biểu cho rằng, nếu một người sang làm việc tại một quốc gia, vi phạm pháp luật của nước đó, sau khi về nước lại tiếp tục sang quốc gia khác để làm việc thì cần có cơ chế pháp luật để ngăn chặn.

“Pháp luật về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cùng với các pháp luật khác cần phải quy định nghiêm khắc hơn, để người Việt Nam khi ra nước ngoài có sự tôn trọng và chấp hành nghiêm pháp luật của nước sở tại”, đại biểu Trần Đình Gia đề nghị.

Theo đại biểu, việc xử lý nghiêm không chỉ góp phần nâng cao hình ảnh Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế mà còn bảo vệ những người có nhu cầu chính đáng khi đi làm việc ở nước ngoài.

thu-dung.jpg
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (Đoàn thành phố Hà Nội) phát biểu thảo luận. Ảnh: Quochoi.vn

Đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (Đoàn thành phố Hà Nội) đề nghị sớm bổ sung cơ chế cho phép các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp có hoạt động liên kết đào tạo quốc tế và đủ điều kiện được trực tiếp đưa sinh viên tốt nghiệp ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng.

Theo đại biểu, việc này sẽ góp phần tháo gỡ những bất cập đang tồn tại trong thực tế. Hiện nay, quyền phái cử chủ yếu thuộc về các doanh nghiệp dịch vụ, môi giới. Việc sinh viên phải đi qua một khâu trung gian có thể khiến chi phí tăng cao. Nếu trao quyền phái cử cho nhà trường, các khoản chi phí sẽ được minh bạch, tích hợp vào lộ trình đào tạo, qua đó giảm áp lực tài chính cho gia đình người học.

Đại biểu cũng cho rằng, cơ chế này sẽ góp phần hạn chế tình trạng lãng phí chất xám và người lao động phải làm việc trái ngành, trái nghề. Thực tế, nhiều kỹ sư, cử nhân khi đi qua các công ty môi giới bên ngoài có thể bị xếp vào nhóm lao động phổ thông.

Trong khi đó, nhà trường là đơn vị hiểu rõ nhất năng lực chuyên môn, trình độ và quá trình đào tạo của sinh viên, từ đó có thể kết nối chính xác với các đối tác, doanh nghiệp nước ngoài. Việc nhà trường trực tiếp ký hợp đồng phái cử, theo đại biểu, sẽ là cơ sở để sinh viên được làm đúng ngành, đúng nghề, phù hợp với trình độ được đào tạo.

Không để người lao động đóng phí rồi mất cơ hội xuất cảnh

dieu-thuy.jpg
Đại biểu Trần Thị Diệu Thúy (Đoàn TP Hồ Chí Minh) phát biểu thảo luận. Ảnh: Quochoi.vn

Đại biểu Trần Thị Diệu Thúy (Đoàn TP Hồ Chí Minh) cơ bản thống nhất với định hướng sửa đổi Luật, nhất là chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng quyền chủ động cho doanh nghiệp và đẩy mạnh phân quyền cho địa phương. Đại biểu đồng thời đề nghị bổ sung các quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Góp ý về chuẩn bị nguồn lao động tại Điều 18, đại biểu cho rằng điểm c khoản 2 dự thảo Luật quy định doanh nghiệp chỉ được thu phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ sau khi người lao động đã được phía nước ngoài tiếp nhận, tuyển chọn.

Theo đại biểu, quy định này góp phần hạn chế tình trạng thu tiền của người lao động khi chưa có cơ hội việc làm cụ thể. Tuy nhiên, quy định vẫn chưa giải quyết đầy đủ quyền lợi của người lao động trong trường hợp đã được tuyển chọn, đã nộp phí nhưng sau đó không thể đi làm việc ở nước ngoài.

Đại biểu dẫn thực tế, việc được phía nước ngoài tuyển chọn chưa đồng nghĩa người lao động chắc chắn được xuất cảnh và làm việc. Sau thời điểm tuyển chọn có thể phát sinh trường hợp doanh nghiệp không ký được hợp đồng hoặc không thực hiện được hợp đồng cung ứng lao động; phía nước ngoài hủy hoặc giảm nhu cầu; chương trình việc làm bị dừng hoặc phát sinh nguyên nhân khách quan khác không thuộc lỗi của người lao động.

Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định: trường hợp người lao động đã nộp phí nhưng không thể đi làm việc ở nước ngoài do nguyên nhân không thuộc lỗi của người lao động thì doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả khoản phí đã thu tương ứng với các nội dung chưa thực hiện hoặc chi phí chưa thực tế phát sinh. Đồng thời, cần quy định rõ thời hạn hoàn trả và trách nhiệm cung cấp chứng từ, bảng kê các khoản chi phí thực tế đã phát sinh để bảo đảm quyền lợi của người lao động.

Về quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp dịch vụ trong hỗ trợ pháp lý cho người lao động tại điểm e khoản 2 Điều 26, đại biểu cho rằng quy định trách nhiệm tư vấn pháp luật và hỗ trợ người lao động tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý trong trường hợp bị lạm dụng, bạo lực hoặc phân biệt đối xử trong thời gian làm việc ở nước ngoài là chưa đầy đủ.

Vì vậy, đại biểu đề nghị sửa quy định theo hướng doanh nghiệp có trách nhiệm tư vấn pháp luật và hỗ trợ người lao động tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý khi quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động bị xâm phạm hoặc khi phát sinh tranh chấp cần hỗ trợ pháp lý trong thời gian làm việc ở nước ngoài.

phuoc-binh.jpg
Đại biểu Thạnh Phước Bình (Đoàn Vĩnh Long) phát biểu thảo luận. Ảnh: Quochoi.vn

Đại biểu Thạnh Phước Bình (Đoàn Vĩnh Long) đề nghị thiết lập rõ cơ chế hậu kiểm dựa trên mức độ rủi ro, xây dựng cơ sở dữ liệu và cơ chế cảnh báo sớm; đồng thời tăng cường các giải pháp ngăn chặn việc lợi dụng pháp nhân để lách quy định về giấy phép và bảo vệ tốt hơn lao động nữ, các nhóm lao động dễ bị tổn thương.

Theo đại biểu Thạnh Phước Bình, đây là vấn đề trung tâm của lần sửa đổi luật này. Đại biểu đề nghị xác lập rõ nguyên tắc hậu kiểm theo mức độ rủi ro, đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể tiêu chí phân loại.

Về việc ngăn chặn lợi dụng pháp nhân để lách quy định về giấy phép, đại biểu cho rằng tại khoản 1a và khoản 1b Điều 10, dự thảo quy định hạn chế cấp giấy phép trong 5 năm đối với doanh nghiệp và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp khi bị thu hồi giấy phép do vi phạm nghiêm trọng, nhưng không mở rộng hạn chế đối với chủ sở hữu, thành viên góp vốn và cổ đông.

Các đại biểu Quốc hội thảo luận ở hội trường về: dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Ảnh: Quochoi.vn
Quốc hội hảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Ảnh: Quochoi.vn

Đại biểu đánh giá cách tiếp cận này là hợp lý, bởi việc hạn chế quyền kinh doanh phải gắn với lỗi và trách nhiệm pháp lý cụ thể. Tuy nhiên, cần phòng ngừa trường hợp người thực tế tổ chức sai phạm chuyển vốn hoặc lập pháp nhân mới để tiếp tục hoạt động.

Do đó đại biểu cho rằng, khi thẩm định cấp giấy phép theo Điều 10, cơ quan có thẩm quyền cần khai thác dữ liệu đăng ký doanh nghiệp để nhận diện các dấu hiệu bất thường như thay đổi người đại diện, chuyển dịch vốn, trùng địa chỉ, nhân sự hoặc bộ máy tuyển dụng. Đồng thời, đại biểu đề nghị xây dựng công cụ tra cứu tập trung, đơn giản để người lao động có thể kiểm tra doanh nghiệp có giấy phép hay không, đơn hàng có hợp pháp hay không và doanh nghiệp có đang bị cảnh báo hay không.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Cần cơ chế nghiêm khắc với lao động Việt Nam vi phạm pháp luật ở nước ngoài

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.