Thành phố Hà Nội đang xây dựng Đề án “Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành Công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội”, nhằm hình thành một nền tảng dữ liệu tin cậy để Hà Nội có thể quản lý, điều hành và phát triển công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, một trong những thách thức hiện nay đó là thiếu đội ngũ nhân lực thống kê chuyên sâu trong lĩnh vực này.
Xung quanh vấn đề này, PGS.TS Trần Thị Ngọc Quyên, Phó Viện trưởng Nghiên cứu sáng tạo (Trường Đại học Ngoại Thương) đã trao đổi với PV Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.
- Thưa bà, việc xây dựng một hệ thống đo lường, các chỉ tiêu cho công nghiệp văn hóa có ý nghĩa như thế nào đối với Hà Nội?
- Đối với bất kỳ lĩnh vực nào trong nền kinh tế, chúng ta đều cần đưa ra các quyết định chính sách. Đặc biệt với cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở để đưa ra chính sách chính là nguồn thông tin đầu vào. Điều này được thể hiện qua các hệ thống chỉ số cho biết ngành, lĩnh vực đó đang phát triển như thế nào.
Việc xây dựng chính sách không phải chung chung mà phải rất cụ thể đối với từng nhóm ngành, nhóm đối tượng, nhóm chủ thể trong nền kinh tế. Thực tế, từ cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế, các nước có nền kinh tế sáng tạo phát triển đều xây dựng hệ thống thống kê rất mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, ví dụ như Anh hay Trung Quốc, một trong những bài học là họ có công cụ quản lý hiệu quả thông qua dữ liệu thống kê.
Tại Hà Nội, công nghiệp văn hóa ngày càng được xác định là một động lực tăng trưởng mới của Thủ đô, việc xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê đầy đủ, tin cậy và có khả năng so sánh là yêu cầu cấp thiết. Dữ liệu không chỉ phục vụ công tác thống kê, giám sát và đánh giá chính sách mà còn là công cụ quan trọng để thu hút đầu tư, thúc đẩy hợp tác công – tư (PPP), hỗ trợ hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực phát triển hiệu quả.
Tuy nhiên, hiện nay dữ liệu về công nghiệp văn hóa còn phân tán ở nhiều cơ quan, thiếu tính đồng bộ, khó kết nối và so sánh; hệ thống phân loại, phương pháp thống kê và cơ chế chia sẻ dữ liệu chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý trong bối cảnh phát triển kinh tế sáng tạo và kinh tế số.

Vì thế, Đề án “Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội” là cần thiết và có ý nghĩa chiến lược. Từ đây, chúng ta có cơ sở để theo dõi, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa theo Nghị quyết số 09-NQ/TU, đặc biệt là các mục tiêu đóng góp 5% GRDP vào năm 2026, 8% vào năm 2030 và 10% vào năm 2045. Bên cạnh đó, trong bối cảnh triển khai Luật Thủ đô năm 2024 với nhiều cơ chế đặc thù về phát triển công nghiệp văn hóa, Bộ chỉ tiêu thống kê sẽ là công cụ quan trọng để đo lường hiệu quả thực hiện các chính sách, mô hình và chương trình phát triển mới của Thành phố, khẳng định vai trò dẫn dắt của Thủ đô trong phát triển kinh tế sáng tạo.
- Theo bà, Hà Nội cần phải phải xây dựng phương pháp đo lường như thế nào về các mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa đến năm 2030, 2045?
- Tôi nghĩ rằng khi xây dựng mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa, Hà Nội đã tham vấn các chuyên gia tư vấn và dựa trên những nguồn lực đầu vào để xây dựng các chỉ tiêu. Khi có hệ thống các chỉ tiêu thống kê sẽ cụ thể hóa được con đường đi như thế nào để thực hiện mục tiêu. Tôi nghĩ rằng các chính sách khi ấy sẽ mang định hướng tập trung hơn rất nhiều. Đặc biệt đối với công nghiệp văn hóa Thủ đô, đối tượng ở đây là cộng đồng sáng tạo, các chuyên gia, địa phương, doanh nghiệp, làng nghề. Hệ thống chỉ tiêu thống kê sẽ định hướng cho chúng ta xem cần phải làm gì, đâu là khâu trọng yếu và những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển.
- Thực tế, đến nay, chúng ta chưa có dữ liệu chính xác về nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa của Thủ đô. Theo bà, nguyên nhân từ đâu và Hà Nội nên tháo gỡ “điểm nghẽn” này như thế nào?
- Chúng ta cần có một chỉ tiêu thống kê bao quát nhất là quy mô nhân lực hoạt động trong lĩnh vực kinh tế sáng tạo nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng, để đưa ra quyết định hoặc đánh giá chính sách. Nhưng hiện nay, dường như chúng ta chưa có được một cơ sở dữ liệu cập nhật về lĩnh vực này.
Việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu này sẽ giúp thống kê được nhóm nhân lực đang hoạt động trong ngành kinh tế sáng tạo nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng. Thậm chí, khi có chỉ tiêu này, chúng ta biết được nhân lực trong từng nhóm như thế nào: Nhân lực trong doanh nghiệp bao nhiêu, trong cộng đồng sáng tạo như thế nào, trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo ra sao. Tôi nghĩ rằng sẽ có những chỉ tiêu nhỏ để chúng ta nhìn sâu hơn, từ đó mới đưa ra chính sách phù hợp, chẳng hạn đối với nhân lực trong cộng đồng sáng tạo thì cần chính sách gì, họ là ai, đặc trưng ra sao….
Đặc biệt, cần lưu ý là nhân sự hoạt động thống kê trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa hiện nay gần như chưa có, mà chúng ta mới chỉ có nhân lực thống kê nói chung. Khi một địa phương hoặc Việt Nam xây dựng hệ thống này, dần dần sẽ hình thành nhóm nhân sự chuyên sâu. Họ sẽ trở thành chuyên gia có khả năng cập nhật, xây dựng và hỗ trợ hệ thống dữ liệu. Trong bối cảnh hiện nay, cần phải có nhân lực chuyên sâu, không thể làm theo thói quen.
Chúng ta có cơ hội là hệ thống giáo dục đào tạo phát triển. Nhân lực trong nước và quốc tế liên quan đến thống kê và văn hóa rất nhiều. Vì vậy, cần có chiến lược đào tạo đội ngũ chuyên sâu cho công nghiệp văn hóa.
Hiện nay, một số trường, trong đó có Đại học Ngoại thương đã đào tạo liên ngành nhiều lĩnh vực. Sinh viên khi học một lĩnh vực có thể hiểu và làm việc ở các ngành liên quan. Ví dụ, sinh viên học kinh doanh sáng tạo hay công nghiệp văn hóa đều được trang bị kiến thức toán, thống kê. Khi ra trường, họ có thể tham gia các dự án dữ liệu, thống kê.
- Có ý kiến cho rằng, thách thức hiện nay đối với Hà Nội là tình trạng “phân mảnh dữ liệu”. Vậy, cần ứng dụng khoa học công nghệ ra sao để tập trung dữ liệu về một đầu mối, thưa bà?
- Có thể nói Đề án “Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành Công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội” cho thấy sự mạnh dạn và quyết tâm của thành phố trong việc coi công nghiệp văn hóa là động lực, là trụ cột phát triển. Tuy nhiên, để có hệ thống dữ liệu thống kê, cần có thống kê nhiều cấp, từ trung ương đến địa phương, theo từng ngành, lĩnh vực. Chỉ khi từng địa phương có chỉ số thống kê cụ thể, xác thực thì chúng ta mới có một tổng thể thống kê của cả nước. Đặc biệt, việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê không đơn giản và rất tốn chi phí đầu tư. Cần phải xác định phải đầu tư cho vấn đề này thì mới có bộ dữ liệu thống nhất và cập nhật được. Muốn vậy, cần hệ thống công nghệ hỗ trợ tính toán, theo dõi, đánh giá hàng năm. Đây là thách thức đối với các nước đang phát triển.
Việc xây dựng chính sách và hệ thống thống kê đòi hỏi nhân lực hiểu sâu lý thuyết, thực tiễn và đặc thù địa phương. Không ai có thể làm thay chúng ta. Tuy nhiên, cần thu hút chuyên gia quốc tế, tổ chức quốc tế và khu vực tư nhân để hỗ trợ. Đặc biệt, cần có tư duy tiếp cận đa chiều, đa nguồn lực để xây dựng hệ thống phù hợp.
- Bên cạnh những khó khăn đó, theo bà, thuận lợi của Hà Nội là gì?
Hà Nội có nhiều điều kiện thuận lợi: Khung chính sách rõ ràng, nguồn lực tập trung, đa dạng về tài chính, chính trị, văn hóa, nhân lực, hệ thống đào tạo. Đây là nơi có sức hút lớn, có thể thu hút nguồn lực và hỗ trợ các địa phương khác cùng phát triển theo hướng liên kết. Đặc biệt, mục tiêu trở thành “Thành phố toàn cầu” đòi hỏi Hà Nội phải có tiêu chí và đặc trưng rõ ràng, mang tầm quốc tế.
Trong quá trình xây dựng hệ chỉ tiêu cho Hà Nội, các chuyên gia thống kê đã bắt đầu tiếp cận lĩnh vực kinh tế sáng tạo, hiểu công nghiệp văn hóa gồm những ngành gì, đặc trưng ra sao. Khi họ cập nhật kinh nghiệm quốc tế, đó là cơ sở tốt để hội nhập và tham gia vào lĩnh vực chuyên sâu này.
Tôi cho rằng, trong bối cảnh triển khai Luật Thủ đô 2024 với nhiều cơ chế đặc thù về phát triển công nghiệp văn hóa, Bộ chỉ tiêu thống kê công nghiệp văn hóa cấp địa phương của Hà Nội cũng sẽ góp phần hoàn thiện phương pháp luận và cung cấp kinh nghiệm thực tiễn cho quá trình xây dựng hệ thống thống kê công nghiệp văn hóa ở phạm vi quốc gia, đồng thời khẳng định vai trò dẫn dắt của Thủ đô trong phát triển kinh tế sáng tạo
- Xin trân trọng cám ơn bà!
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.