Người sáng tạo ra tác phẩm có quyền cho phép hoặc cấm sử dụng tác phẩm của mình. Điều đó có nghĩa, việc quản lý và khai thác quyền tác giả trước hết thuộc về tác giả. Nhưng việc tự quản lý và khai thác các quyền của tác giả nhiều khi không có hiệu quả. Đó là lý do cơ bản nhất dẫn đến sự ra đời của các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả.

Theo đó, thông qua các hợp đồng, các tác giả, chủ sở hữu tác phẩm chuyển giao quyền cá nhân cho tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả. ở Việt Nam, cho tới thời điểm này đã có 3 tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả nhưng hoạt động như thế nào thì lại là một câu hỏi chưa có lời giải. Hơn nữa, cho đến nay việc nên thành lập bao nhiêu tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả vẫn đang là vấn đề tiếp tục được bàn luận.
1. Không chỉ thực hiện việc cấp phép sử dụng tác phẩm, thu quyền bản quyền, phân phối tiền bản quyền cho tác giả, người sử dụng tác phẩm, tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả còn góp phần thúc đẩy các hoạt động sáng tác. Nhà văn, nhạc sĩ, nhiếp ảnh gia, đạo diễn, người biểu diễn... đều có thể tham gia tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả phù hợp. Các thông tin về tác giả, chủ sở hữu tác phẩm tạo nên một “ngân hàng”. Đây là tư liệu quan trọng cho việc cấp phép và thanh toán tiền bản quyền. Đồng thời, “ngân hàng” này sẽ là kho tư liệu để đối chiếu với “ngân hàng” của tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả quốc tế trong quan hệ bảo hộ lẫn nhau giữa các quốc gia. Tại mỗi quốc gia có hệ thống các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả khác nhau. Thông thường các quốc gia có tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả tương ứng với các nhóm quyền: Quyền tác giả của nhà soạn nhạc, soạn lời; Quyền tác giả của tác phẩm văn học; Quyền của người biểu diễn công cộng; Quyền của nhà sản xuất chương trình ghi âm; Quyền của tổ chức phát sóng; Quyền biểu diễn trong tác phẩm kịch (sân khấu). Tuy nhiên, số lượng các tổ chức ở mỗi nước không giống nhau. Hoa Kỳ: 13; Canada: 38; Thụy Sĩ: 5; Hàn Quốc: 5...
2. Thực tế, việc bảo vệ bản quyền liên quan đến rất nhiều cơ quan, nếu không muốn nói là một hệ thống cơ quan thuộc các ngành Văn hóa, Hải quan, Thương mại... Tuy nhiên, sự vào cuộc, hình thành một tổ chức liên ngành đến thời điểm này ở Việt Nam chưa có. Đôi khi chỉ đơn thuần là “công dã tràng” của ngành Văn hóa. Đây cũng chính là lý do khiến Việt Nam chưa hình thành được hệ thống quản lý quyền tác giả đủ mạnh. Bởi các tổ chức hiện có là Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc (VCPMC); Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV); Trung tâm bản quyền tác giả Văn học Việt Nam (VLCC) đều là những tổ chức của hội nghề nghiệp (không kèm theo một chế tài, một công cụ quản lý nhà nước nào, chỉ đưa vào sự vận động chung chung). Điều này, cũng có nghĩa là việc hoạt động thực thi quyền tác giả gặp rất nhiều khó khăn, kết quả bảo hộ chưa được như mong muốn. Thật khó phủ nhận những nỗ lực của những người trong ban vận động thành lập trung tâm. Đa phần, họ là những người hoạt động văn học nghệ thuật sôi nổi và có ít nhiều tên tuổi: Nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến, nhà văn Trần Thị Trường. Tuy nhiên, như đã thấy, hiệu quả của các trung tâm trên đang hết sức khiêm tốn, mặc dù lúc ra đời đã tốn không ít giấy mực của báo giới. Cho đến thời điểm này chưa có được một sự kiện nào đáng nói, ngoài việc Đài Truyền hình Việt Nam đồng ý trả tiền (tượng trưng) bản quyền âm nhạc.
Một thực tế đáng quan tâm là hầu hết các lĩnh vực văn học nghệ thuật và khoa học đều được Nhà nước cho lập các Hội nghề nghiệp. Trong văn học nghệ thuật có tới 12 hội chuyên ngành thuộc TƯ. Và tại 64 tỉnh, thành đều có 64 hội văn nghệ. Các hội và tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả được ra đời trên cơ sở sắc lệnh số 102/SL004 ngày 20-5-1957 về quyền lập hội và Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30-7-2003 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Chính vì thế, vào thời điểm này có hai cách lý giải khác nhau về việc thành lập tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả. Thứ nhất, chỉ ra đời một số tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả thuộc một số Hội văn học nghệ thuật TƯ (tất nhiên không phải hội nào cũng thành lập). Thứ 2: Tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả đối với lĩnh vực có đặc trưng vừa là nghệ thuật vừa là công nghệ mà hầu hết các quốc gia đều có. Theo cách này, Việt Nam chỉ cần thêm tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả: Trung tâm quyền người biểu diễn (Hội Nghệ sĩ sân khấu và Hội Nghệ sĩ múa).
Tất nhiên, nếu cách này được Nhà nước chấp thuận, thì sẽ khó nhận được sự đồng tình từ những người hoạt động trong các loại hình nghệ thuật khác như: Mỹ thuật, Nhiếp ảnh... Thực tế, hiệu quả hoạt động của tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả không phụ thuộc vào số lượng các tổ chức. Bởi trên thực tế, rất nhiều vụ đạo nhạc, đạo ảnh diễn ra ngay cả khi có tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả. Vấn đề cơ bản là tác giả, người sở hữu tác phẩm và người được hưởng thụ chưa ý thức được quyền của mình. Chính vì thế, ở rất nhiều diễn đàn về bản quyền, giải pháp được nhiều người nhắc đến chính là tiếp tục tăng cường các hoạt động tuyên truyền và giáo dục kiến thức về quyền tác giả và quản lý tập thể quyền tác giả”.
HNM
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.