Kinh tế

Bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng 2 con số

Thanh Hiền 16/09/2026 - 09:49

Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030 đặt ngành Điện trước yêu cầu vừa đáp ứng nhu cầu phụ tải tăng nhanh, vừa bảo đảm hệ thống vận hành an toàn, ổn định.

evnnpc-tang-cuong-kiem-tra-giam-sat-luoi-dien.jpg
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống đến năm 2030 cần đạt khoảng 180.000-220.000 MW. Ảnh: ĐVCC

Áp lực từ những “điểm nóng” phụ tải

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, nhu cầu tiêu thụ điện giai đoạn 2026-2030 dự kiến tăng 10,5-12,9%/năm. Dù hệ số đàn hồi giữa tăng trưởng điện và GDP đã được cải thiện nhờ các giải pháp tiết kiệm năng lượng, chỉ số này vẫn ở mức 1,1-1,2 lần. Điều đó cho thấy tăng trưởng kinh tế càng cao, áp lực lên hệ thống điện càng lớn.

Thực tế vận hành năm 2026 đã phần nào cho thấy sức ép này. Công suất cực đại toàn hệ thống đạt 58.500MW trong đợt nắng nóng cao điểm cuối tháng 6, riêng miền Bắc đạt 30.200MW, với tốc độ tăng trưởng phụ tải đỉnh trên 14,4%. Theo tính toán của Công ty Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện quốc gia (NSMO), nếu duy trì đà tăng hiện nay, công suất đỉnh toàn quốc đến năm 2030 có thể tiệm cận 100.000-110.000MW, gần gấp đôi hiện nay.

Đáng chú ý, áp lực không phân bổ đồng đều giữa các khu vực. Ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng giám đốc NSMO cho biết, miền Bắc đang chịu áp lực cung ứng điện lớn do nguồn phát nội tại triển khai chậm, trong khi các đường dây truyền tải 500kV liên miền đã tiệm cận giới hạn vận hành. Phụ tải miền Bắc lại nhạy cảm với nhiệt độ và thường đạt đỉnh trong khoảng 21-23 giờ, khi điện mặt trời không còn phát điện.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống đến năm 2030 cần đạt khoảng 180.000-220.000MW, đồng nghĩa phải bổ sung gần 90.000MW nguồn điện mới cùng hệ thống truyền tải đồng bộ. Trong khi đó, nhiều dự án điện khí LNG và nhiệt điện quy mô lớn vẫn đứng trước nguy cơ chậm tiến độ do những vướng mắc về cơ chế đầu tư, hợp đồng mua bán điện và thu xếp vốn.

Ở chiều ngược lại, sự phát triển nhanh của điện gió, điện mặt trời cũng đặt ra yêu cầu mới đối với công tác điều độ. Đây là các nguồn điện phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, đòi hỏi hệ thống phải nâng cao năng lực dự báo, điều hành và từng bước bổ sung các giải pháp lưu trữ để bảo đảm độ linh hoạt, ổn định.

Như vậy, áp lực bảo đảm điện cho tăng trưởng hai con số đang đòi hỏi nguồn điện phải tăng nhanh, lưới truyền tải phải đi trước, trong khi phương thức vận hành hệ thống cũng phải thay đổi để thích ứng với cơ cấu nguồn điện mới.

Không chỉ xây thêm nguồn điện

Trước yêu cầu đó, Bộ Công Thương đang tập trung tháo gỡ các bất cập về cơ chế, chính sách và tiến độ dự án; trong đó có việc điều chỉnh, cập nhật Quy hoạch điện VIII, ưu tiên các dự án có tính khả thi cao và tháo gỡ thủ tục liên quan đến các dự án lưới điện truyền tải.

Theo ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương), Bộ đang rà soát, điều chỉnh cơ cấu nguồn điện giữa các vùng miền, đẩy nhanh ban hành khung giá phát điện cho năng lượng tái tạo năm 2026 và hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA). Mục tiêu là tạo hành lang pháp lý minh bạch, qua đó thu hút thêm nguồn lực xã hội đầu tư vào ngành Điện.

Ở góc độ doanh nghiệp nòng cốt, EVN đã xây dựng kế hoạch đầu tư giai đoạn 2026-2030 với tổng vốn khoảng 830.000 tỷ đồng. Ông Trịnh Quang Ninh, Phó trưởng Ban Kế hoạch EVN cho biết, Tập đoàn dự kiến tập trung hoàn thành 15 dự án nguồn điện trọng điểm, với tổng công suất hơn 6.000MW; đồng thời triển khai 2.000MW hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) và đưa vào vận hành gần 300 dự án lưới điện truyền tải 220-500kV.

Để các dự án về đích đúng tiến độ, đại diện EVN cho rằng cần cơ chế đặc thù nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư, xử lý song song các thủ tục về đất đai, quy hoạch, môi trường; cùng với đó là sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương trong công tác giải phóng mặt bằng.

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào đầu tư nguồn và lưới, bài toán an ninh năng lượng vẫn chưa được giải quyết đầy đủ. Theo chuyên gia năng lượng Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh, bên cạnh vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp nhà nước, việc tháo gỡ vướng mắc thể chế và tạo sự thống nhất trong thực thi tại địa phương là yêu cầu cấp bách. Đồng thời, cần phát huy tối đa các nguồn điện phân tán, đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng và ứng dụng công nghệ lưu trữ để giảm hệ số đàn hồi năng lượng.

Quản lý phía cầu vì thế cần được nhìn nhận như một cấu phần của bài toán bảo đảm điện, thay vì chỉ là giải pháp tình thế khi thiếu nguồn. Điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu kết hợp lưu trữ; điều chỉnh phụ tải; dịch chuyển nhu cầu sử dụng điện khỏi giờ cao điểm; đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp… đều có thể góp phần giảm áp lực cho hệ thống.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Sơn, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho rằng, mục tiêu tăng trưởng hai con số phải gắn chặt với phát triển năng lượng, trong đó bảo đảm đủ điện cho sản xuất cần được đặt lên hàng đầu.

Cùng với phát triển nguồn điện mới, tiết kiệm điện cũng cần được xem là một nguồn lực quan trọng. Theo ông Nguyễn Ngọc Sơn, tiết kiệm điện là “nguồn điện rẻ và nhanh nhất”, đồng thời đề xuất mức tiết kiệm tối thiểu 10% trong các tháng cao điểm nắng nóng để giảm áp lực đầu tư nguồn mới.

Về phía EVN, Tập đoàn đặt mục tiêu tiết kiệm tối thiểu 3% sản lượng điện thương phẩm và 10% điện năng trong các tháng cao điểm mùa khô năm 2026.

Với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên, năng lực cung ứng điện sẽ tác động trực tiếp đến khả năng mở rộng sản xuất, thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp công nghệ cao, kinh tế số và những lĩnh vực tiêu thụ nhiều năng lượng như dữ liệu, AI. Nói cách khác, an ninh năng lượng là hạ tầng của tăng trưởng.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng 2 con số

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.