Sáng 20-10, tại Hà Nội, Cục Quản lý Tài nguyên nước phối hợp với Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo “Đưa Luật Tài nguyên nước vào cuộc sống: Chủ động nguồn nước, điều hòa và vận hành hiệu quả”.

Biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan và nhu cầu sử dụng ngày càng tăng đang đặt an ninh nguồn nước trước sức ép lớn. Không chỉ dừng ở dự báo, cấp phép khai thác hay vận hành từng công trình riêng lẻ, quản lý tài nguyên nước phải chuyển mạnh sang điều hòa, phân phối chủ động, liên thông dữ liệu và phối hợp theo lưu vực sông. Đưa Luật Tài nguyên nước vào cuộc sống đòi hỏi những chuyển biến thực chất trong quản trị nguồn nước.
Chuyển từ dự báo sang chủ động điều hành
Sáng 20-10, tại Hà Nội, Cục Quản lý Tài nguyên nước phối hợp với Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo “Đưa Luật Tài nguyên nước vào cuộc sống: Chủ động nguồn nước, điều hòa và vận hành hiệu quả”. Hội thảo tập trung nhận diện những điểm nghẽn trong quản lý, khai thác, điều hòa, phân phối tài nguyên nước; đồng thời đề xuất giải pháp đổi mới quản trị, ứng dụng khoa học công nghệ trong vận hành hồ chứa, bảo đảm an ninh nguồn nước trước những thách thức ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu.
Luật Tài nguyên nước năm 2023, có hiệu lực từ ngày 1-7-2024, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý. Trọng tâm không còn bó hẹp ở cấp phép khai thác, sử dụng nước, mà hướng tới quản trị tổng hợp theo lưu vực sông, điều hòa nguồn nước giữa các ngành, địa phương và chủ động ứng phó nguy cơ thiếu nước. Tuy nhiên, để tinh thần của luật đi vào thực tiễn, điều quan trọng là chuyển các quy định, công cụ quản lý thành những quyết định điều hành kịp thời, có căn cứ và rõ trách nhiệm.
Theo Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, khoảng 60% lượng nước của Việt Nam đến từ ngoài lãnh thổ; riêng lưu vực sông Cửu Long, tỷ lệ này gần 95%. Trong khi đó, nước mặt chiếm tới 96,5% lượng nước khai thác, còn nông nghiệp sử dụng khoảng 86% tổng lượng nước của các ngành. Những con số này cho thấy an ninh nguồn nước không chỉ phụ thuộc vào tổng lượng nước tự nhiên, mà còn ở khả năng chủ động kiểm soát, tích trữ và phân phối nguồn nước trước những biến động khó lường.

Thực tế, một lưu vực có tổng lượng nước tương đối dồi dào vẫn có thể thiếu nước nghiêm trọng tại từng tiểu vùng. Hồ chứa có dung tích lớn cũng chưa chắc bảo đảm cấp nước nếu quy trình vận hành thiếu linh hoạt, dữ liệu dự báo không đầy đủ hoặc các công trình không được phối hợp đồng bộ. Vì vậy, quản lý phân tán theo ngành, địa giới hành chính cần từng bước được thay thế bằng cơ chế điều hành thống nhất theo lưu vực sông; ứng phó khi hạn hán xảy ra phải chuyển thành dự báo, chuẩn bị phương án và phân bổ nguồn nước từ sớm.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, kịch bản nguồn nước cần vượt ra khỏi chức năng dự báo đơn thuần để trở thành căn cứ trực tiếp cho điều hành, phân phối nước và xây dựng kế hoạch cấp nước của các hệ thống thủy lợi.
Thực tiễn mùa cạn 2025-2026 trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình cho thấy vai trò của công cụ này. Kịch bản nguồn nước đưa ra khuyến nghị lượng nước phục vụ đổ ải vụ Đông Xuân năm 2026 khoảng 3,2-3,7 tỷ mét khối, tạo cơ sở phối hợp lịch xả của các hồ chứa lớn với lịch lấy nước của hệ thống thủy lợi vùng Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ.
Theo đó, kịch bản dù được xây dựng công phu cũng khó phát huy hiệu quả nếu không được cụ thể hóa thành kế hoạch vận hành hồ chứa, lịch lấy nước, phương án sản xuất và biện pháp ứng phó thiếu nước tại địa phương. Giá trị của dự báo phải được đo bằng khả năng giúp cơ quan quản lý ra quyết định đúng thời điểm, đúng nhu cầu và hạn chế thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra.
Trước nguy cơ El Niño trong giai đoạn 2026-2027 và khả năng thiếu hụt nguồn nước tại nhiều lưu vực, yêu cầu cấp thiết là thường xuyên cập nhật kịch bản, xác định thứ tự ưu tiên sử dụng nước, bảo đảm dòng chảy tối thiểu và xây dựng phương án cấp nước tương ứng với từng cấp độ rủi ro. Khi nguồn nước suy giảm, việc phân bổ không thể chỉ dựa vào nhu cầu riêng lẻ của từng ngành, mà phải tính đến lợi ích chung của toàn lưu vực và nhu cầu thiết yếu của người dân.

Hiện đại hóa vận hành, nâng hiệu quả sử dụng nước
Cùng với nâng cao chất lượng dự báo, hiện đại hóa vận hành hồ chứa là khâu quan trọng để đưa Luật Tài nguyên nước vào thực tiễn. Các hệ thống hồ chứa ngày càng phải đáp ứng đồng thời nhiều mục tiêu như cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu, phát điện, phòng, chống lũ và duy trì dòng chảy môi trường. Nếu thiếu dữ liệu tin cậy và cơ chế phối hợp hiệu quả, việc ưu tiên một mục tiêu riêng lẻ có thể làm giảm hiệu quả khai thác tổng hợp, thậm chí gia tăng rủi ro cho khu vực hạ du.
Theo Giáo sư Nguyễn Quốc Dũng, Chủ tịch Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam, tỷ lệ hồ chứa được trang bị thiết bị quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng tự động mới đạt khoảng 17%. Dữ liệu giữa các ngành, các chủ hồ còn thiếu đồng bộ; nhiều quy trình vận hành vẫn dựa vào biểu đồ điều phối tĩnh, chưa được hỗ trợ đầy đủ...
Những hạn chế này cho thấy khoảng cách giữa yêu cầu quản trị hiện đại với năng lực vận hành thực tế. Khi dữ liệu không được chia sẻ kịp thời, cơ quan điều hành khó có bức tranh đầy đủ về diễn biến nguồn nước trên toàn lưu vực. Khi quy trình vận hành thiếu linh hoạt, việc điều chỉnh theo diễn biến mưa, lũ, hạn hán và nhu cầu sử dụng nước cũng khó đạt hiệu quả tối ưu.

Để khắc phục, Giáo sư Nguyễn Quốc Dũng đề xuất ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ bản sao số, hệ thống cảm biến và dữ liệu thời gian thực trong giám sát, dự báo, điều hành hồ chứa. Cùng với đó là xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung theo lưu vực sông, chuẩn hóa quy chuẩn kỹ thuật, cơ chế chia sẻ dữ liệu và hoàn thiện định mức kinh tế - kỹ thuật đối với dịch vụ công nghệ phục vụ vận hành hồ chứa.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trong một cơ chế quản trị thống nhất. Đầu tư thiết bị quan trắc hay xây dựng cơ sở dữ liệu sẽ khó tạo chuyển biến nếu thông tin không được cập nhật đầy đủ, không có cơ chế chia sẻ bắt buộc hoặc không gắn với trách nhiệm của đơn vị vận hành. Vì vậy, hiện đại hóa hồ chứa phải đi cùng hoàn thiện quy trình phối hợp, xác định rõ trách nhiệm cung cấp dữ liệu và cơ chế xử lý khi các bên không thực hiện đúng yêu cầu…
Tại phiên tọa đàm, các nhà khoa học, chuyên gia thủy lợi tiếp tục phân tích bài toán phân bổ nguồn nước giữa các nhu cầu sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện và bảo vệ hệ sinh thái. Trong điều kiện nguồn nước có giới hạn, lợi ích của từng ngành không thể được xem xét tách rời lợi ích chung. Việc phân bổ phải dựa trên dữ liệu tin cậy, thứ tự ưu tiên rõ ràng và cơ chế phối hợp đủ hiệu lực để xử lý tình huống thiếu nước, thiên tai hoặc xung đột trong khai thác, sử dụng.

Từ những vấn đề được chỉ ra tại hội thảo, yêu cầu đặt ra là tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên nước; kết nối kịch bản nguồn nước với quy trình vận hành hồ chứa và kế hoạch cấp nước; tăng cường chia sẻ dữ liệu, ứng dụng công nghệ, đồng thời phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện. Cơ chế phối hợp cần được cụ thể hóa bằng quy trình, thời hạn và trách nhiệm giải trình, thay vì chỉ dừng ở yêu cầu chung.
Đưa Luật Tài nguyên nước vào cuộc sống phải được đánh giá bằng kết quả thực chất: nguy cơ thiếu nước được cảnh báo sớm hơn, nguồn nước được phân bổ hợp lý hơn, công trình vận hành an toàn hơn và nhu cầu thiết yếu của người dân được bảo đảm tốt hơn. Đây cũng là thước đo hiệu quả của đổi mới quản trị tài nguyên nước.
Bảo đảm an ninh nguồn nước không thể chỉ trông chờ vào những công trình mới hay lượng nước thiên nhiên cung cấp. Cốt lõi là nâng cao năng lực dự báo, điều hành, phối hợp và sử dụng hiệu quả từng nguồn nước hiện có. Khi dữ liệu được kết nối, quy trình vận hành linh hoạt và trách nhiệm được xác định rõ, các quy định của Luật Tài nguyên nước mới thực sự chuyển hóa thành năng lực chủ động trước những biến động ngày càng khó lường của khí hậu.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.