Từ 1/1/2026: Quy định rõ 5 trường hợp được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp

Bảo Duy 18/01/2026 10:09

Nghị định 374/2025/NĐ-CP của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, quy định chi tiết 5 trường hợp người lao động được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, đồng thời bổ sung mốc tối đa 144 tháng và nguyên tắc trừ thời gian đã hưởng. Quy định mới giúp người lao động dễ nhận biết quyền lợi của mình và tạo sự thống nhất trong thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên phạm vi cả nước.

Từ ngày 1/1/2026, các quy định về bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chính thức được áp dụng theo Nghị định số 374/2025/NĐ-CP của Chính phủ. Đây là nghị định mới, thay thế và hoàn thiện nhiều nội dung trước đây tại Nghị định 28/2015/NĐ-CP, nhằm khắc phục những điểm còn chung chung, thiếu thống nhất trong thực tiễn áp dụng.

Người lao động làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội. Ảnh minh họa.

Theo Điều 8 Nghị định 374/2025/NĐ-CP, người lao động được bảo lưu thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp trong 5 trường hợp cụ thể.

Thứ nhất, người lao động đã hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng vẫn còn thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa được giải quyết hưởng. Điều kiện đặt ra là tổng thời gian đã đóng phải trên 36 tháng đến đủ 144 tháng. Phần thời gian chưa giải quyết hưởng sẽ được bảo lưu để tính cho lần hưởng tiếp theo. Trường hợp người lao động đã đóng trên 144 tháng thì phần thời gian chưa giải quyết hưởng sẽ không được bảo lưu.

Thứ hai, người lao động bị hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp. Khi đó, toàn bộ thời gian đã đóng BHTN nhưng chưa hưởng sẽ được bảo lưu.

Thứ ba, người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng bị chấm dứt hưởng trong những trường hợp pháp luật cho phép bảo lưu. Phần thời gian chưa hưởng sẽ tiếp tục được bảo lưu để làm căn cứ cho lần hưởng sau.

Thứ tư, người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp sau 3 tháng kể từ ngày hết thời hạn hưởng, nếu không có thông báo bằng văn bản. Số tháng tương ứng với thời gian không nhận tiền sẽ được bảo lưu.

Thứ năm, người lao động được cơ quan Bảo hiểm xã hội xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp sau khi đã chấm dứt hưởng trợ cấp. Nghị định quy định rõ cách tính để xác định số tháng được bảo lưu, kể cả trong trường hợp lần hưởng sau cùng có thời gian đóng dưới 36 tháng.

Nghị định 374/2025/NĐ-CP cũng khẳng định nguyên tắc chung: Cứ mỗi 1 tháng người lao động đã hưởng trợ cấp thất nghiệp thì tương ứng với 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp; thời gian này sẽ bị trừ khi xác định phần còn lại được bảo lưu.

So với Nghị định 28/2015/NĐ-CP trước đây, quy định mới có nhiều điểm tiến bộ. Trước kia, pháp luật không đặt ra giới hạn tối đa về thời gian được bảo lưu, không liệt kê đầy đủ từng tình huống cụ thể và cũng chưa có công thức rõ ràng để tính trong trường hợp phát sinh thời gian đóng bổ sung. Điều này khiến việc áp dụng giữa các địa phương đôi khi chưa thống nhất, người lao động cũng khó nắm bắt chính xác quyền lợi của mình.

Việc bổ sung mốc 144 tháng và chuẩn hóa toàn bộ các trường hợp được bảo lưu theo Nghị định 374/2025/NĐ-CP được đánh giá là cần thiết, phù hợp với thực tiễn. Quy định mới vừa bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động, vừa tăng tính minh bạch, dễ hiểu trong quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Đây cũng là cơ sở để cơ quan quản lý, cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước, hạn chế vướng mắc, khiếu nại phát sinh.

Từ năm 2026, người lao động cần chủ động theo dõi quá trình đóng - hưởng bảo hiểm thất nghiệp của mình, nắm rõ các trường hợp được bảo lưu để bảo vệ đầy đủ quyền lợi khi tham gia thị trường lao động.

Về chế độ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, Nghị định 374/2025/NĐ-CP tiếp tục kế thừa nguyên tắc cơ bản là mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp, nhưng cụ thể hóa và siết chặt hơn một số nội dung quan trọng.

Nghị định làm rõ cách xác định 6 tháng liền kề trong trường hợp có thời gian gián đoạn đóng; khẳng định mức hưởng tối đa không vượt quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động; và quy định chi tiết cách tính tháng hưởng theo tháng dương lịch, từ ngày bắt đầu hưởng đến ngày tương ứng của tháng sau trừ 1 ngày (hoặc đến ngày cuối tháng nếu tháng sau không có ngày tương ứng).