Sử dụng các loại phân bón vi sinh giúp kiểm soát khí mê-tan

Phương Thu 23/10/2025 15:16

TTTĐ - Trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam đứng trước áp lực giảm phát thải khí mê-tan, phân bón vi sinh đang được xem là một giải pháp cho nông nghiệp xanh. Để làm rõ vấn đề này, phóng viên báo Tuổi trẻ Thủ đô đã có cuộc trao đổi với Th.S Nguyễn Văn Thịnh, Phó hiệu trưởng trường Cao đẳng Công nghệ Ngoại thương.

- PV: Thưa ông, vì sao nông nghiệp Việt Nam lại được xem là một trong những lĩnh vực phát thải khí nhà kính lớn và việc lạm dụng phân bón hóa học có vai trò thế nào trong vấn đề này?

- Th.S Nguyễn Văn Thịnh, Phó hiệu trưởng trường Cao đẳng Công nghệ Ngoại thương: Ngành nông nghiệp hiện chiếm tới 30% phát thải khí nhà kính của Việt Nam, trong đó ba lĩnh vực chính tạo phát thải lớn nhất là trồng lúa nước, chăn nuôi và quản lý đất - phân bón. Riêng quản lý đất và sử dụng phân bón hóa học đã chiếm khoảng 13% tổng phát thải, tương đương 13,2 triệu tấn CO2 mỗi năm.

Th.S Nguyễn Văn Thịnh, Phó hiệu trưởng trường Cao đẳng Công nghệ Ngoại thương

Sự lạm dụng phân bón hóa học trong canh tác khiến đất đai suy giảm độ phì, vi sinh vật có lợi bị tiêu diệt và quá trình chuyển hóa dinh dưỡng trong môi trường ẩm ướt sinh ra khí N2O - loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn CO2 tới 265-300 lần.

Không chỉ vậy, việc bón phân không hợp lý, sai thời điểm làm gia tăng lượng khí phát thải và giảm hiệu quả sử dụng phân bón, khiến nông dân vừa tốn chi phí vừa gây hại môi trường. Vì vậy, cắt giảm phát thải từ phân bón hóa học là nhiệm vụ then chốt nếu Việt Nam muốn tiến tới nền nông nghiệp carbon thấp.

- PV: Trong bối cảnh đó, các mô hình canh tác hữu cơ và phân bón vi sinh được nhắc đến như một giải pháp quan trọng. Ông có thể phân tích rõ hơn về vai trò và cơ chế tác động của phân bón vi sinh?

- Th.S Nguyễn Văn Thịnh, Phó hiệu trưởng trường Cao đẳng Công nghệ Ngoại thương: Phân bón vi sinh là một sản phẩm phân bón xanh tiên tiến, chứa các chủng vi sinh vật hữu ích như Rhizobium, Azotobacter, Azospirillum, Bacillus hay Trichoderma. Khi được đưa vào đất, các vi sinh vật này sinh trưởng mạnh mẽ, tiết ra enzyme, acid hữu cơ và hợp chất đối kháng giúp nuôi dưỡng hệ vi sinh vật có lợi, cải thiện cấu trúc đất, tăng độ tơi xốp, giữ ẩm và giảm rửa trôi dinh dưỡng. Nhờ đó, đất trở nên màu mỡ hơn, cây trồng hấp thu dinh dưỡng tự nhiên tốt hơn và giảm nhu cầu phụ thuộc phân hóa học.

Quan trọng hơn, phân bón vi sinh giúp giảm phát thải N2O và metan nhờ tạo ra hệ sinh thái đất cân bằng, hạn chế quá trình chuyển hóa nitơ bất lợi do vi khuẩn gây phát thải. Các chủng vi sinh còn có thể cố định đạm từ không khí, phân giải lân và kali đang bị “khóa” trong đất, giúp cây hấp thu hiệu quả mà không cần bổ sung phân vô cơ. Đây là lợi thế lớn khi người nông dân hướng đến canh tác hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và giảm phát thải.

- PV: Thưa ông, việc ứng dụng phân bón vi sinh hiện nay có những thuận lợi và hạn chế gì? Người nông dân cần lưu ý điều gì để đạt hiệu quả cao?

- Th.S Nguyễn Văn Thịnh, Phó hiệu trưởng trường Cao đẳng Công nghệ Ngoại thương: Ưu điểm của phân bón vi sinh là rất rõ ràng: Cải thiện đất, bảo vệ môi trường, giúp cây khỏe mạnh, giảm sâu bệnh, giảm ô nhiễm nguồn nước và phù hợp với định hướng nông nghiệp xanh. Sản phẩm vi sinh hiện cũng phong phú, gồm dòng chuyên dụng (cố định đạm, phân giải lân, phân giải kali) và dòng đa chủng dạng bột, hạt hoặc lỏng, dễ lựa chọn theo cây trồng.

Phân bón vi sinh cung cấp dinh dưỡng, cải thiện đất trồng, góp phần giảm phát thải khí mê-tan. Ảnh minh họa

Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất là hiệu quả không đến tức thời. Vi sinh vật cần thời gian để thích nghi, sinh trưởng nên nông dân phải kiên trì. Điều kiện môi trường như nhiệt độ, pH, độ ẩm cũng ảnh hưởng hoạt động của vi sinh. Ngoài ra, việc bảo quản và vận chuyển đòi hỏi cẩn trọng vì ánh nắng và nhiệt cao dễ tiêu diệt vi sinh vật.

Để dùng hiệu quả, nông dân cần chọn đúng chủng phù hợp cây trồng; bón vào lúc mát; tưới ẩm nhẹ để vi sinh dễ “bắt rễ”; tránh trộn với thuốc bảo vệ thực vật có chất diệt nấm - kháng khuẩn mạnh; hạn chế dùng nước có clo đậm; kết hợp nguồn hữu cơ như phân chuồng ủ hoai để nuôi dưỡng vi sinh. Quan trọng hơn cả là tuân thủ đúng liều lượng và quy trình của nhà sản xuất.

- PV: Theo ông, để phân bón vi sinh thực sự trở thành một hướng đi chủ lực giúp nông nghiệp Việt Nam giảm phát thải khí mê-tan và tiến tới Net Zero vào năm 2050, cần những giải pháp gì trong thời gian tới?

- Th.S Nguyễn Văn Thịnh, Phó hiệu trưởng trường Cao đẳng Công nghệ Ngoại thương: Trước hết, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân. Việc hiểu đúng bản chất và hiệu quả của phân bón vi sinh sẽ quyết định việc người dân có mạnh dạn thay đổi thói quen canh tác hay không. Bên cạnh đó, Nhà nước cần hoàn thiện quy chuẩn, tiêu chuẩn cho sản phẩm vi sinh để bảo đảm chất lượng, tránh hàng giả, hàng kém chất lượng làm mất niềm tin của thị trường.

Tiếp theo, cần có chính sách khuyến khích phát triển mô hình nông nghiệp tuần hoàn, hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu - sản xuất - kiểm nghiệm sản phẩm, đồng thời xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc để tăng minh bạch.

Khi toàn bộ chuỗi giá trị từ sản xuất đến phân phối được kiểm soát tốt, phân bón vi sinh sẽ trở thành công cụ hiệu quả trong giảm phát thải. Quan trọng hơn, các địa phương cần lồng ghép phân bón vi sinh vào các chương trình khuyến nông, chuyển đổi sinh kế, phát triển vùng nguyên liệu bền vững để tạo lan tỏa rộng rãi.

PV:Xin trân trọng cảm ơn ông!