GDP quý I-2026: Chưa đạt kịch bản nhưng vẫn là điểm sáng tăng trưởng
Quý I-2026, GDP Việt Nam tăng 7,83%, chưa đạt kịch bản đề ra nhưng vẫn là mức tăng tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động.
Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) Nguyễn Thị Hương nhấn mạnh khi trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo, Phát thanh và Truyền hình Hà Nội về bức tranh kinh tế quý I-2026
Xuất nhập khẩu tăng mạnh, FDI và tiêu dùng tiếp tục khởi sắc
-Bà có thể cho biết về bức tranh kinh tế Việt Nam trọng quý I-2026?
-Quý I năm 2026, GDP của Việt Nam tăng 7,83%, thấp hơn mục tiêu theo kịch bản đề ra. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới đầy bất ổn với nhiều cú sốc lớn, các nền kinh tế đang đồng loạt lao đao thì kết quả này vẫn là điểm sáng trên “bản đồ”tăng trưởng thế giới.
Động lực duy trì tăng trưởng của Việt Nam đến từ cả phía cung và phía cầu. Về phía cung, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì đà tăng, bám sát mục tiêu với mức tăng khoảng 3,6%. Khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ đều ghi nhận mức tăng trên 8%, cho thấy sự phục hồi và mở rộng sản xuất trong điều kiện chịu nhiều áp lực từ giá cả, đặc biệt là giá xăng dầu và nguyên vật liệu đầu vào.

Ở phía cầu, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng khoảng 23%, phản ánh mức độ kết nối cao của nền kinh tế Việt Nam với thị trường khu vực và thế giới thông qua hoạt động thương mại. Trong đó, xuất khẩu tăng khoảng 19%, nhập khẩu tăng khoảng 27%. Dù ghi nhận mức nhập siêu hơn 3,6 tỷ USD, song khoảng 94% kim ngạch nhập khẩu là tư liệu sản xuất, cho thấy nhu cầu sản xuất trong nước tiếp tục duy trì ở mức cao và tạo nền tảng cho tăng trưởng trong thời gian tới.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,7%, là điểm sáng quan trọng của nền kinh tế. Đáng chú ý, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký mới tăng mạnh, thể hiện niềm tin của nhà đầu tư quốc tế đối với môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Vốn FDI thực hiện có mức tăng cao nhất quý I của các năm từ năm 2022 đến nay.
Tiêu dùng nội địa tiếp tục phục hồi tích cực, với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng trên 10%. Như vậy, cả ba động lực của tổng cầu gồm tiêu dùng, đầu tư và xuất khẩu đều ghi nhận tăng trưởng khả quan.
-Yếu tố nào khiến tăng trưởng kinh tế quý I-2026 không đạt như kịch bản đề ra, thưa bà?
- Trước hết, cần nhìn nhận rằng tăng trưởng kinh tế hiện nay đang đối mặt với nhiều khó khăn, xuất phát từ đặc điểm độ mở lớn của nền kinh tế Việt Nam. Theo đó, các biến động của thị trường thế giới có thể tác động gần như tức thời đến trong nước.
Cụ thể, giá xăng dầu và chi phí vận tải tăng kéo theo giá nguyên vật liệu nhập khẩu gia tăng, làm gia tăng áp lực chi phí đầu vào cho sản xuất. Điều này không chỉ gây sức ép lên lạm phát mà còn làm thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và kết nối của hàng hóa Việt Nam trên thị trường.
Bên cạnh đó, xu hướng gia tăng các biện pháp thuế quan và bảo hộ thương mại tại nhiều nền kinh tế lớn cũng tạo thêm rào cản đối với hoạt động xuất khẩu. Điều này đặt ra thách thức trong việc duy trì năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường cho hàng hóa Việt Nam trong thời gian tới.
Có thể nói, tăng trưởng không đạt mục tiêu là do cộng hưởng giữa các áp lực bên ngoài và năng lực hấp thu nội tại còn hạn chế. Cụ thể, các rào cản thương mại mới và biến động tỷ giá, lãi suất toàn cầu đã đẩy chi phí đầu vào lên cao, trực tiếp làm hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp xuất khẩu; trong khi đó, khu vực tư nhân chưa kịp hấp thụ vốn hiệu quả và các dự án đầu tư công trọng điểm vẫn đang ở giai đoạn khởi động, chưa tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ lên giá trị gia tăng toàn nền kinh tế. Sự thiếu hụt này phản ánh thực tế rằng mô hình tăng trưởng đang trong giai đoạn chuyển đổi sang hướng xanh và số, đòi hỏi thời gian tích lũy để thích ứng với các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe thay vì bứt phá ngay lập tức.
Phát huy “kiềng ba chân” để hướng tới mục tiêu hai con số
- Vậy, theo bà, để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong các quý tới cũng như cả năm 2026, cần thực hiện những giải pháp gì?
-Mục tiêu tăng trưởng hai con số cho cả năm 2026 là một mục tiêu đầy thách thức và mang tính lịch sử.

Ảnh: Hiền Thanh
Trước những khó khăn trên, để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng trong các quý tiếp theo, giải pháp trọng tâm trước hết là duy trì ổn định các cân đối vĩ mô, đặc biệt là cân đối cung – cầu của nền kinh tế.
Trong đó, cần bảo đảm nguồn cung các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống như lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, điện năng, đồng thời chú trọng các yếu tố đầu vào cho sản xuất như phân bón, sắt thép, vật liệu xây dựng và dịch vụ logistics. Việc điều tiết hợp lý nguồn cung sẽ góp phần ổn định giá cả và hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Song song với đó, cần tăng cường các chính sách khuyến khích doanh nghiệp và nhà đầu tư phối hợp, chia sẻ nguồn lực, tối ưu hóa tồn kho và chi phí nhằm ứng phó linh hoạt với biến động thị trường.
Về dài hạn, cần tiếp tục phát huy “kiềng ba chân” của tăng trưởng gồm đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu.
Trong đó, đầu tư công đóng vai trò “vốn mồi”dẫn dắt thu hút các nguồn lực xã hội, năng lực sản xuất dài hạn. Đầu tư công năm 2026 tập trung vào các siêu dự án hạ tầng (đường sắt cao tốc, cụm đường vành đai, cao tốc, Khu đô thị thể thao Olympic…) tạo ra hiệu ứng lan tỏa cực mạnh. Đây không chỉ là chi tiêu Chính phủ đơn thuần mà là quá trình tích lũy sản xuất cho nền kinh tế, giúp giảm chi phí logistics, kích thích dòng vốn FDI và đầu tư tư nhân đổ vào các khu vực vệ tinh xung quanh hạ tầng mới.
Tiêu dùng nội địa cần được duy trì ổn định thông qua việc củng cố niềm tin và thu nhập của người dân.
Đối với khu vực đầu tư nước ngoài, Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn không chỉ nhờ môi trường sản xuất mà còn nhờ các yếu tố ổn định xã hội và tiềm năng phát triển dịch vụ, du lịch. Đây cũng là kênh quan trọng góp phần thúc đẩy tiêu dùng và xuất khẩu tại chỗ thông qua hoạt động du lịch.
Cùng với đó, triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu theo hướng bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường, mặt hàng.
Việc ứng dụng AI và tự động hóa không chỉ là xu hướng mà đã trở thành công cụ bắt buộc.Trong bối cảnh giá nguyên liệu đầu vào biến động, công nghệ giúp doanh nghiệp sản xuất chuyển từ thâm dụng lao động sang thâm dụng tri thức, trực tiếp cải thiện chỉ số Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và tạo ra dư địa tăng trưởng mới từ các mô hình kinh doanh số.
Như vậy, việc bảo đảm cân đối hài hòa giữa tích lũy (đầu tư), tiêu dùng và xuất khẩu sẽ là nền tảng để duy trì tăng trưởng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động.
-Trân trọng cảm ơn bà!