Làng nghề Hà Nội: Khơi dậy nguồn lực, kiến tạo động lực phát triển mới
Tối 10-3, Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội thực hiện chương trình thời sự đặc biệt mang tên “Làng nghề Hà Nội - Kiến tạo động lực phát triển mới”, nhằm nhìn nhận đầy đủ vai trò của các làng nghề trong bức tranh phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Tại trường quay, những chia sẻ của các chuyên gia và người gắn bó với làng nghề đã cho thấy, phía sau mỗi sản phẩm thủ công không chỉ là giá trị kinh tế, mà còn là chiều sâu văn hóa, là sinh kế của hàng vạn người dân và là nguồn lực quan trọng để Hà Nội phát triển bền vững.
Sức sống và giá trị của làng nghề Hà Nội

Hà Nội từ lâu được xem là cái nôi của nhiều nghề truyền thống nổi tiếng của cả nước. Tham gia chương trình, bà Hà Thị Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội, hiện Thủ đô có khoảng 1.350 làng nghề, trong đó có hơn 330 làng nghề và làng nghề truyền thống được thành phố công nhận. Đây là con số đặc biệt, thể hiện sự phong phú và chiều sâu của hệ thống làng nghề Hà Nội so với nhiều địa phương khác.
Không chỉ là những không gian lưu giữ nghề cổ, nhiều làng nghề của Hà Nội hiện nay vẫn duy trì được sức sống mạnh mẽ. Hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề, đặc biệt trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, diễn ra sôi động và có quy mô lớn. Điều đó cho thấy thị trường đối với các sản phẩm làng nghề vẫn rộng mở, đồng thời khẳng định tiềm năng phát triển còn rất lớn.
Một trong những tín hiệu đáng mừng là đội ngũ nghệ nhân làng nghề ngày càng trẻ hóa. Theo bà Vinh, Hội đồng thẩm định nghệ nhân cấp thành phố định kỳ 2 năm tổ chức xét chọn, tôn vinh những người thợ giỏi, qua đó phát hiện và bồi dưỡng thêm nhiều tài năng trẻ. Thực tế cho thấy, ngày càng nhiều người trẻ lựa chọn quay về quê hương để tiếp nối nghề truyền thống.
Không ít bạn trẻ từng làm việc tại các doanh nghiệp, có thu nhập khá ổn định ở đô thị nhưng vẫn quyết định trở về làng nghề để lập nghiệp. Có người chấp nhận từ bỏ mức lương 15–20 triệu đồng mỗi tháng để theo đuổi nghề truyền thống của gia đình. Điều đó cho thấy sức hút của làng nghề không chỉ đến từ giá trị kinh tế, mà còn từ niềm tự hào và tình yêu đối với nghề cha ông để lại.
Cùng tham gia chương trình, nhìn nhận giá trị của làng nghề dưới góc độ văn hóa, ông Tôn Gia Hóa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cho rằng giá trị lớn nhất của làng nghề được thể hiện qua từng sản phẩm thủ công. Đó là kết tinh của trí tuệ, bàn tay khéo léo và kỹ thuật tinh xảo được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong mỗi sản phẩm mỹ nghệ, những hoa văn, họa tiết truyền thống được gìn giữ và tái hiện với sự sáng tạo không ngừng của người thợ. Chính những chi tiết tinh xảo đó đã làm nên bản sắc riêng của từng làng nghề, tạo nên giá trị khác biệt mà các sản phẩm công nghiệp khó có thể thay thế.
“Mỗi sản phẩm làng nghề không chỉ là một hàng hóa thông thường mà còn là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, khiếu thẩm mỹ và tinh thần lao động của nghệ nhân. Đó là những sản phẩm văn hóa có tính nghệ thuật cao”, ông Tôn Gia Hóa nhấn mạnh.
Nghệ nhân vì thế không chỉ là người làm nghề, mà còn là người lưu giữ ký ức văn hóa của cộng đồng. Họ vừa bảo tồn những kỹ thuật truyền thống, vừa sáng tạo ra những sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu của thị trường hiện đại. Chính sự kết hợp giữa truyền thống và sáng tạo đã giúp nhiều làng nghề Hà Nội tiếp tục phát triển trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Chính sách thúc đẩy phát triển và những nút thắt cần tháo gỡ
Dù có nhiều tiềm năng, sự phát triển của làng nghề vẫn phụ thuộc rất lớn vào cơ chế, chính sách hỗ trợ từ Nhà nước và chính quyền địa phương.
Theo bà Hà Thị Vinh, để các làng nghề phát triển bền vững và khai thác hết tiềm lực sẵn có, những vấn đề như mặt bằng sản xuất, nguồn vốn, đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ cần được quan tâm hơn nữa. Một cơ chế chính sách phù hợp sẽ trở thành “cú hích” quan trọng giúp các làng nghề đổi mới và phát triển mạnh mẽ.
Trong thực tế, nhiều công đoạn sản xuất hoàn toàn có thể áp dụng máy móc và công nghệ hiện đại để nâng cao năng suất, giảm chi phí, qua đó giúp sản phẩm có giá thành cạnh tranh hơn. Tuy nhiên, với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, vẫn có những khâu bắt buộc phải giữ nguyên yếu tố thủ công tinh xảo. Đó chính là phần “hồn cốt” tạo nên giá trị riêng của sản phẩm làng nghề.
Bên cạnh những thuận lợi, các làng nghề cũng đang đối mặt với không ít thách thức. Một trong những vấn đề nổi cộm là môi trường sản xuất. “Nhiều làng nghề vẫn duy trì mô hình sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu theo hộ gia đình, trong khi hệ thống xử lý chất thải tập trung còn thiếu hoặc chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Không ít nơi chất thải từ quá trình sản xuất vẫn xả trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm nước, không khí và ảnh hưởng đến đời sống của người dân…”, ông Tôn Gia Hóa nêu
Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ của các làng nghề cũng kéo theo áp lực về tiếng ồn, rác thải và nhu cầu hạ tầng sản xuất. Trong khi đó, các khu, cụm công nghiệp làng nghề hiện có quy mô còn hạn chế, chưa đủ điều kiện để đầu tư hệ thống xử lý môi trường đồng bộ.
Cũng theo ông Tôn Gia Hóa, việc đầu tư hạ tầng môi trường cho làng nghề là rất cần thiết, nhưng song song với đó cần nâng cao ý thức của cộng đồng và các cơ sở sản xuất. Khi người dân hiểu rõ trách nhiệm của mình đối với môi trường, các giải pháp kỹ thuật mới có thể phát huy hiệu quả.
Một thách thức khác đến từ tư duy sản xuất truyền thống. Trong quá khứ, phần lớn các làng nghề hoạt động theo mô hình tự cung tự cấp, sản phẩm chủ yếu phục vụ nhu cầu trong địa phương hoặc khu vực lân cận. Khi bước vào môi trường kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, việc thay đổi tư duy sản xuất và kinh doanh trở thành yêu cầu tất yếu.

Khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới
Một trong những chương trình được đánh giá có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của làng nghề trong những năm gần đây là Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP).
Theo Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội Hà Thị Vinh, OCOP không chỉ là một chương trình phát triển sản phẩm mà còn là một bộ tiêu chí quan trọng giúp các cơ sở sản xuất chuẩn hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhờ đó, nhiều sản phẩm làng nghề đã được nâng tầm, từng bước đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
Bà Vinh cũng chỉ rõ, dư địa xuất khẩu đối với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Việc phát triển OCOP chính là một chiến lược hiệu quả để các làng nghề nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và hội nhập sâu hơn với kinh tế toàn cầu. Song song với đó, hoạt động xúc tiến thương mại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quảng bá sản phẩm làng nghề. Những hội chợ, triển lãm chuyên ngành không chỉ là nơi giới thiệu sản phẩm mà còn giúp các doanh nghiệp kết nối với đối tác, tìm kiếm cơ hội hợp tác và mở rộng thị trường.
Tuy nhiên, để các sản phẩm thủ công mỹ nghệ có thể vươn xa hơn, theo bà Hà Thị Vinh, cần có chiến lược xúc tiến thương mại bài bản và chuyên nghiệp. Các doanh nghiệp làng nghề cần được hỗ trợ nhiều hơn để tham gia các hội chợ quốc tế, đồng thời được tư vấn về cách thức quảng bá, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường.
Một hướng đi khác được nhiều chuyên gia đề xuất là xây dựng các trung tâm thiết kế và đổi mới sáng tạo tại các vùng làng nghề trọng điểm. Mô hình này được kỳ vọng sẽ giúp kết nối giữa nghệ nhân, doanh nghiệp với các nhà khoa học, nhà thiết kế, từ đó tạo ra những sản phẩm mới có giá trị cao hơn.
Theo đề xuất của bà Vinh, mô hình này có thể được thí điểm tại những làng nghề có tiềm năng lớn như Bát Tràng. Trung tâm sẽ hoạt động theo hình thức hợp tác công - tư, trong đó Nhà nước hỗ trợ về mặt bằng, còn doanh nghiệp và người dân cùng tham gia đầu tư trang thiết bị và nguồn lực. Sự kết hợp giữa tri thức khoa học, công nghệ mới với kinh nghiệm truyền thống của nghệ nhân sẽ mở ra nhiều cơ hội để các sản phẩm làng nghề tiếp cận những thị trường khó tính hơn.
Kết thúc chương trình, nêu những kiến nghị với Trung ương và thành phố Hà Nội nhằm bảo tồn, phát huy giá trị làng nghề trong giai đoạn mới, ông Tôn Gia Hóa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho rằng, Hà Nội là địa phương có sự quan tâm khá rõ đối với lĩnh vực này. Trong những năm gần đây, nhiều cơ chế, chính sách đã được thành phố triển khai quyết liệt, qua đó góp phần nâng đỡ và thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề.
Tuy nhiên, chừng đó vẫn chưa đủ để các làng nghề phát huy hết tiềm năng vốn có. “Tôi không nói thay cho các nghệ nhân, nhưng dưới góc độ người hoạt động trong Hiệp hội Làng nghề Việt Nam và luôn quan tâm tới sự phát triển của làng nghề, tôi cho rằng các làng nghề cần nhiều hơn sự hỗ trợ từ cơ chế, chính sách. Không chỉ là các dự án hay khoản hỗ trợ đơn lẻ, điều quan trọng là những chính sách thật sự gần gũi, sát thực tiễn, giúp tháo gỡ những khó khăn cụ thể mà người làm nghề đang gặp phải”, ông Tôn Gia Hóa nhấn mạnh.

Những kiến nghị đó cũng cho thấy, để các làng nghề phát triển bền vững, không chỉ cần những chính sách phù hợp mà còn cần nhìn nhận đầy đủ hơn giá trị kinh tế, văn hóa và xã hội mà làng nghề mang lại cho Thủ đô. Bởi làng nghề Hà Nội không chỉ là những không gian sản xuất đơn thuần, mà còn là kho tàng di sản văn hóa sống động. Mỗi sản phẩm thủ công là kết tinh của lịch sử, của sự sáng tạo và của niềm tự hào nghề nghiệp được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong bối cảnh Hà Nội đang hướng tới phát triển bền vững và xây dựng nền kinh tế sáng tạo, các làng nghề chính là nguồn lực đặc biệt. Khi được khơi thông bằng những cơ chế, chính sách phù hợp, kết hợp với tinh thần đổi mới của người làm nghề, làng nghề không chỉ tiếp tục gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc mà còn trở thành động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội của Thủ đô trong giai đoạn mới.