Công nghệ tưới tiết kiệm nước đánh thức tiềm năng cây trồng cạn
Ngày 29-12, tại phường Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk), Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi phối hợp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) với Báo Nông nghiệp và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk tổ chức Diễn đàn “Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ chiến lược trong phát triển tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây trồng cạn phục vụ nông nghiệp thông minh, ứng phó biến đổi khí hậu, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên”.
Đổi mới tư duy sử dụng nước - yêu cầu tất yếu
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường Vũ Minh Việt nhấn mạnh: Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là hai vùng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển nông nghiệp hàng hóa với các cây trồng cạn chủ lực như cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày. Đây cũng là khu vực chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Hạn hán kéo dài, thiếu nước tưới, suy giảm cả nguồn nước mặt và nước ngầm đang trở thành thách thức thường trực, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng nông sản và sinh kế của hàng triệu nông dân.

“Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy, phương thức quản lý và sử dụng nước trong nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững và thích ứng”. Trong bối cảnh chuyển đổi sang nông nghiệp thông minh, nông nghiệp sinh thái, việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà còn là giải pháp chiến lược, gắn với các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp bền vững, bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia.
Chia sẻ tại Diễn đàn, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi và Phòng chống thiên tai tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Thành Long cho biết, đến nay, toàn tỉnh đã có hơn 84.000ha cây trồng cạn được áp dụng các hình thức tưới tiên tiến, tiết kiệm nước. Kết quả này có được nhờ việc Đắk Lắk chủ động cụ thể hóa các chính sách của Trung ương, đặc biệt là Nghị định số 77/2018/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Tuy nhiên, theo ông Long, diện tích áp dụng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu thực tế. Nhiều vùng sản xuất cà phê, hồ tiêu, sầu riêng vẫn còn phụ thuộc vào phương thức tưới truyền thống, gây lãng phí nước, công lao động và chi phí sản xuất.

Tại phiên thảo luận chuyên đề, bà Nguyễn Thị Thùy Anh, Giám đốc phụ trách khu vực Tây Nguyên của Công ty Khang Thịnh cho rằng, sự khác biệt giữa các thiết bị tưới nhập khẩu từ Israel và Trung Quốc không chỉ nằm ở giá thành, mà cốt lõi là hàm lượng công nghệ, tri thức tích hợp và khả năng thích ứng với điều kiện canh tác cụ thể. Thiết bị tưới của Israel nổi trội về độ bền, độ chính xác và khả năng tối ưu hóa nước, phân bón nhờ tích hợp công nghệ cao, nhưng chi phí đầu tư ban đầu lớn.
Trong khi đó, thiết bị từ Trung Quốc có lợi thế về giá, cấu hình đơn giản, phù hợp với quy mô sản xuất nhỏ, song đòi hỏi người sử dụng phải lựa chọn và vận hành đúng cách để bảo đảm hiệu quả lâu dài. “Vấn đề không nên đặt theo hướng chọn bên nào, mà là làm sao kết hợp công nghệ, dịch vụ và tri thức sử dụng để tạo ra giá trị phù hợp cho từng nhóm nông dân”, bà Nguyễn Thị Thùy Anh nhấn mạnh.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Văn Kiên, Trung tâm Tư vấn quản lý thủy nông có sự tham gia của người dân (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam), các công nghệ tưới tiên tiến như tưới nhỏ giọt, tưới phun mưa đã chứng minh hiệu quả rõ rệt: Giúp tăng năng suất cây trồng cạn từ 10-30%, giảm 20-50% công lao động, tiết kiệm 20-40% lượng nước tưới và hạn chế thất thoát phân bón. Dù vậy, diện tích áp dụng hiện mới đạt khoảng 7,3% tổng diện tích cây trồng cạn, chủ yếu tập trung ở các mô hình điểm do Nhà nước hỗ trợ, chưa tạo được sự lan tỏa mạnh trong cộng đồng.
Nguyên nhân được chỉ ra là việc thực thi chính sách hỗ trợ ở nhiều địa phương còn hạn chế; thiếu kế hoạch cụ thể, thiếu chỉ tiêu diện tích áp dụng, trong khi công tác tuyên truyền, tập huấn còn mang tính giới thiệu, chưa giúp nông dân làm chủ công nghệ. Không ít hộ sản xuất vẫn còn tâm lý trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước.

Thúc đẩy chuyển đổi số trong tưới tiêu thông minh
Ở góc độ quản lý, Phó Chánh Văn phòng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi Đinh Thanh Mừng cho rằng, đây là giai đoạn nhiều cơ hội khi chuyển đổi số trong nông nghiệp và thủy lợi đang được thúc đẩy mạnh mẽ, cùng với hành lang pháp lý từng bước hoàn thiện. Tỷ lệ người dân sử dụng internet và điện thoại thông minh ngày càng cao là điều kiện thuận lợi để đưa các ứng dụng công nghệ số vào sản xuất nông nghiệp.
Thời gian tới, cần đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích của tưới tiêu thông minh. Đồng thời, cần nghiên cứu, bổ sung các quy định về ứng dụng AI, dữ liệu lớn, bản sao số trong hệ thống pháp luật về thủy lợi; ưu tiên xây dựng cơ chế hỗ trợ tài chính và phát triển hạ tầng số để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư các giải pháp tưới tiên tiến, tiết kiệm nước.

Thẳng thắn nhìn nhận, ông Nguyễn Hoài Nam, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi cho rằng, chi phí đầu tư ban đầu còn cao, giá nông sản bấp bênh, cùng với hạn chế trong tiếp cận chính sách và tư vấn kỹ thuật là những rào cản lớn, khiến người dân còn e ngại.
Để tháo gỡ, Cục tiếp tục phối hợp với các địa phương triển khai hiệu quả Nghị định số 77/2018/NĐ-CP theo hướng đơn giản hóa thủ tục, tăng tính minh bạch. Các nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, vốn ODA và tín dụng ưu đãi sẽ được lồng ghép mạnh mẽ nhằm đầu tư hạ tầng tích trữ nước và hệ thống tưới cho cây trồng cạn chủ lực.

Thời gian tới, ngành thủy lợi sẽ xây dựng nền tảng dữ liệu số, tích hợp với cơ sở dữ liệu ngành Nông nghiệp và ứng dụng AI để hỗ trợ nông dân ra quyết định “tưới đúng - tưới đủ - tưới hiệu quả”, từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp thông minh, bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt…