Y tế

Hợp tác quốc tế triển khai mô hình mẫu về chăm sóc đái tháo đường thai kỳ

Gia Phong 04/12/2025 - 17:54

Chiều 4-12, tại Hà Nội, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang đã ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác với Tổ chức Family Health International FHI 360 (Hoa Kỳ) và Viện Nghiên cứu Phát triển Bền vững quốc gia Pháp (IRD), đồng thời tổ chức buổi sinh hoạt khoa học với chủ đề “Dinh dưỡng phòng ngừa và điều trị đái tháo đường thai kỳ”.

ky-ket.jpg
Lễ ký kết giữa Bệnh viện Đa khoa Đức Giang với FHI 360 (Hoa Kỳ) và IRD (Pháp). Ảnh: BTC

Theo báo cáo tại lễ ký kết, trong nhiều thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, nhất là ở lĩnh vực phòng, chống bệnh truyền nhiễm và suy dinh dưỡng. Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển kinh tế – xã hội và thay đổi lối sống, mô hình bệnh tật tại Việt Nam đang chuyển dịch mạnh. Gánh nặng bệnh không lây nhiễm ngày càng gia tăng, trong đó đái tháo đường thai kỳ là một trong những vấn đề đáng lo ngại.

Nếu như năm 2001, tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ tại Việt Nam chỉ ở mức 3%, thì đến năm 2024 con số này đã tăng lên 27% – mức tăng gần như gấp 9 lần trong hơn hai thập kỷ.

Sự gia tăng này liên quan đến tuổi mang thai trung bình cao hơn, tỷ lệ thừa cân – béo phì gia tăng và lối sống ít vận động hơn trước. Đây là thách thức lớn đối với hệ thống y tế, đặc biệt trong công tác dự phòng, phát hiện sớm và quản lý thai nghén.

Nếu không được phát hiện và kiểm soát kịp thời, bệnh có thể dẫn đến hàng loạt biến chứng nguy hiểm. Với mẹ, đó là tăng huyết áp, tiền sản giật, sinh non, đa ối, sẩy thai, thai lưu hoặc nhiễm khuẩn tiết niệu. Với thai nhi và trẻ sơ sinh, bệnh có thể gây dị tật bẩm sinh, vàng da sơ sinh, hạ đường huyết, tăng hồng cầu, béo phì, suy hô hấp hoặc thậm chí tử vong ngay sau sinh...

Không chỉ vậy, nhiều nghiên cứu cho thấy, phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ thường khởi phát tiết sữa muộn và có lượng sữa ít hơn; trẻ sinh ra bởi các bà mẹ này cũng có nhu cầu dinh dưỡng cao hơn bình thường, đòi hỏi hỗ trợ đặc biệt để nuôi con bằng sữa mẹ thành công.

Phát biểu tại buổi lễ, PGS.TS Đỗ Đình Tùng, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Đức Giang khẳng định, lễ ký kết là dấu mốc quan trọng trong chiến lược hợp tác quốc tế của bệnh viện. Biên bản ghi nhớ giữa các bên nhằm thiết lập khuôn khổ hợp tác dựa trên thế mạnh, sự tự nguyện đóng góp của mỗi tổ chức và tầm nhìn chung về cải thiện sức khỏe – dinh dưỡng cho bà mẹ, trẻ em và cộng đồng.

Cũng tại sự kiện, bác sĩ Nguyễn Văn Chi, Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) chia sẻ về mối quan tâm lớn đối với đái tháo đường thai kỳ. Tháng 9 vừa qua, ông đã tiếp đoàn Quỹ Đái tháo đường thế giới để trao đổi về các ưu tiên trọng tâm trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ – trẻ em, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ tại Việt Nam ngày càng tăng. Sau đó, đến tháng 10-2025, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang được trao danh hiệu Bệnh viện Thực hành Nuôi con bằng sữa mẹ xuất sắc, tạo nền tảng quan trọng để bệnh viện tiếp tục phát triển các mô hình chăm sóc toàn diện.

Chỉ trong hai tháng, bệnh viện đã chủ động kết nối với các tổ chức quốc tế uy tín mà FHI 360 của Hoa Kỳ và IRD của Pháp nhằm xây dựng ý tưởng “Mô hình kiểu mẫu về chăm sóc đái tháo đường thai kỳ toàn diện” để đề xuất lên Quỹ Đái tháo đường thế giới. Bên cạnh đó, bệnh viện cũng hợp tác để xuất bản quốc tế các mô hình đã triển khai hiệu quả như chăm sóc tôn trọng sản phụ, thúc đẩy – bảo vệ nuôi con bằng sữa mẹ, chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm và ngân hàng sữa mẹ; đồng thời phát triển nghiên cứu và các dịch vụ khám chữa bệnh, phục hồi chức năng từ xa cho trẻ rối loạn tâm thần – hành vi và ứng dụng công nghệ số trong chăm sóc mẹ – bé.

Với vai trò hỗ trợ chuyên môn cho 5 bệnh viện tuyến cơ bản và 22 trạm y tế gần các khu công nghiệp lớn của Hà Nội, mô hình chăm sóc toàn diện này tập trung vào phòng ngừa, phát hiện sớm, điều trị và theo dõi sau sinh cho phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ, đặc biệt nhóm lao động nữ di cư.

Bác sĩ Nguyễn Văn Chi cũng bày tỏ sự ủng hộ và tin tưởng rằng sáng kiến này sẽ tạo ra những thay đổi thực chất, góp phần xây dựng thế hệ bà mẹ – trẻ em Việt Nam khỏe mạnh, phát triển toàn diện và được bảo vệ trước gánh nặng bệnh không lây nhiễm trong tương lai.