Thu hẹp đồng bằng sông Hồng: Bài toán lương thực, việc làm

Kinh tế - Ngày đăng : 07:22, 24/07/2005

Ai cũng nhận thấy, chỉ trồng lúa không thể mang lại hiệu quả kinh tế cao. Và trên thực tế, nhiều nông dân không còn tha thiết làm nông nghiệp. Thêm vào đó, công nghiệp hóa khiến diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, sản lượng lương thực sẽ sụt giảm nếu như...

Ai cũng nhận thấy, chỉ trồng lúa không thể mang lại hiệu quả kinh tế cao. Và trên thực tế, nhiều nông dân không còn tha thiết làm nông nghiệp. Thêm vào đó, công nghiệp hóa khiến diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, sản lượng lương thực sẽ sụt giảm nếu như...

Nhiều nguy cơ mới đối với an ninh lương thực trong quá trình công nghiệp hóa đã và đang là vấn đề được đặc biệt quan tâm, mặc dù hiện tại nước ta đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo.

Chán ruộng- một thực tế

Đông Phương (huyện Đông Hưng) là một xã thuần nông như bao xã thuần nông khác của Thái Bình- nơi đã tự hào đi vào lịch sử, trở thành một trong những mốc son của ngành Nông nghiệp, là cảm hứng cho một bài hát nổi tiếng với cái tên vẻ vang: Chị Hai 5 tấn. Sản xuất nông nghiệp là chính nhưng nhiều nông dân ở đây không còn tha thiết làm nông, nhiều người xin trả lại ruộng. Một vị cán bộ UBND xã cho hay: - Năm ngoái, có thời gian dài xã có hơn 8 ha ruộng bị bỏ hoang. Người xin trả lại một sào, người hai ba sào. Hiện tại, số đất ruộng bỏ hoang kia đã được khuyến khích gieo trồng trở lại nhưngđồng ruộng không còn là mối quan tâm của bà con.

Không chỉ xã Đông Phương mà rất nhiều nơi ở Thái Bình cũng đang gặp rất nhiều khó khăn trong duy trì sản xuất nông nghiệp. Ông Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Đông Hưng cho biết: - Với 4.260 ha, chỉ cần gieo trồng 70% diện tích đề ra là tốt lắm rồi.

Thái Bình vốn tự hào là quê hương “chị Hai 5 tấn”, nay nghe chuyện nông dân chán ruộng cũng thấy lạ. Một lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình thừa nhận: - Số lượng ruộng người dân bỏ hoang chính xác là bao nhiêu thì hiện nay chúng tôi chưa có thống kê, còn chuyện người nông dân đang chán ruộng là có thật, điển hình ở các huyện Kiến Xương, Quỳnh Phụ và Đông Hưng. Hiện giờ, tình hình có được cải thiện nhưng đây vẫn là mối quan tâm lớn của tỉnh.

- Vì sao chán ruộng ? Khi được hỏi, nhiều nông dân trả lời: - Ăn gì mà cấy ? Giá đạm, giá lân, giá thuốc trừ sâu... tăng vùn vụt. Giá lúa có tăng nhưng bù lại sao nổi.

Ông Tứ, (thôn Trung, xã Đông Phương) hạch toán chi li: - Công làm một sào ruộng hết 250 nghìn đồng, phân bón, thuốc trừ sâu đội thêm 100 nghìn đồng nữa. Năm tốt mỗi sào lúa được hai tạ, trừ đóng thuỷ lợi phí cho xã, hợp tác xã, lời chưa nổi 100 nghìn đồng. Mỗi khẩu nhà tôi được 1,3 sào. Sài sãi cả năm được 130 nghìn đồng, chia ra 180 ngày (một vụ), mỗi ngày chưa nổi 1 nghìn vào miệng. Thế thì cấy làm gì, trong khi đi làm thợ xây, ăn rồi ngày cũng còn dư chục nghìn bạc.

Giá trị thu nhập trực tiếp từ đồng ruộng ngày một thấp.Không riêng Thái Bình, thời gian qua, nông dân ở nhiều tỉnh, thành phố khác khu vực đồng bằng sông Hồng cũng không còn thiết tha với đồng ruộng, như Hà Tây, một số nơi ở Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh... Vả lại, hàng loạt nhà máy, khu công nghiệp bung ra, người nông dân háo hức với cơ hội việc làm mới. Họ làm phép so sánh thực dễ: - Làm công nhân, thu nhập mỗi tháng nếu thấp cũng phải 400, 500 nghìn đồng, cao thì được 700, 800 nghìn đồng. Một hai sào lúa làm gì cho lại.

Công nghệ yếu kém- một thực tế nữa

Trong một hội thảo về vấn đề lương thực, GS. TS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long đã khẳng định, xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao là xu thế tất yếu, xu thế này lại càng đặc biệt quan trọng khi phát triển công nghiệp. Nơi nào sản xuất trên diện tích ít nhưng đạt sản lượng cao, thu lợi nhuận cao thì gọi là nông nghiệp công nghệ cao. Nói nôm na là như thế. Ngành Nông nghiệp vẫn đang phải tính toán nhiều vấn đề, trong đó phải vừa bảo đảm an ninh lương thực vừa nâng cao giá trị, hiệu quả trên từng ha canh tác. Trong khi diện tích đất nông nghiệp hoặc chuyển sang đất chuyên dùng hoặc bị “nhà máy hóa”, “khu công nghiệp hóa” tăng từng ngày thì tiến độ triển khai, áp dụng công nghệ cũng như khả năng đưa công nghệ vào sản xuất nông nghiệp lại yếu kém.

Có một xu thế khá thú vị, ấy là mặc dù các dự án và vốn đầu tư tăng mạnh nhưng sức hút ở lĩnh vực nông nghiệp còn thấp. Đối với riêng khu vực đầu tư nước ngoài, số dự án chỉ chiếm chưa đến 7% và 2% số vốn đăng kí. Các nhà đầu tư trong nước cũng không mấy mặn mà. Bức tranh công nghiệp khu vực đồng bằng sông Hồng khá rõ nét: Số nhà máy phục vụ sản xuất hoặc chế biến, bảo quản sản phẩm nông nghiệp chỉ là cái móng tay so với các nhà máy ở những lĩnh vực khác.

Nhiều nhà quản lí thừa nhận, trong khi các nhà máy, khu công nghiệp ở đồng bằng sông Hồng nối nhau mọc lên thì quy hoạch vùng- quy hoạch sản xuất nông nghiệp lại không được làm đến nơi đến chốn, cũng như không có tiếng nói chung giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với các địa phương. Dường như lí do khiến nông nghiệp bị xao nhãng nằm ở nhận thức: Khi kinh tế phát triển, tỉ trọng việc làm trong khu vực nông nghiệp cũng như tỉ trọng GDP của nông nghiệp trong tổng GDP giảm xuống. Tức là, vai trò của nông nghiệp sẽ suy giảm. Phải chăng nguyên nhân này đã dẫn tới việc đất nông nghiệp bị cắt xén ồ ạt- xét về mặt quy hoạch. Trong khi đó, nhiều vùng đất không thể làm nông nghiệp được lại bị “bỏ hoang” hoặc để trồng sắn.

Trách nhiệm “gánh gồng”

Chỉ trong vòng ba năm, từ năm 2001 đến năm 2004, diện tích đất trồng lúa của cả nước đã giảm 338 nghìn ha. Trong đó, đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm có con số đất nông nghiệp bị mất, bị chuyển đổi mục đích sử dụng lớn nhất. Tuy nhiên, con số sản lượng thu hoạch lại khiến nhiều người lạc quan: Nếu như năm 2001, nước ta mới đạt năng suất 42,7 tạ lúa một ha thì năm 2004, con số này đã tăng lên 48,6. Sản lượng lúa cả nước năm 2001 mới đạt 32,5 triệu tấn thì 2004 đã lên tới 35,9 triệu tấn. Lượng gạo xuất khẩu của cả nước năm 2004 đã đạt trên 4 triệu tấn, nước ta trở thành nước đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo.

Tuy nhiên, tình trạng chênh lệch sản lượng lương thực giữa các vùngtương đối lớn. Đến thời điểm này, cùng với đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng là một trong hai vựa lúa lớn nhất của cả nước. Để ổn định bình quân lương thực, đến năm 2010, đồng bằng sông Hồng phải sản xuất được khoảng 8 triệu tấn lương thực.

Mười một tỉnh, thành phố khu vực này đã phải “gánh gồng” những nơi không có điều kiện sản xuất lương thực. Tuy nhiên, nếu như cùng với quá trình công nghiệp hóa, đồng bằng sông Cửu Long ít bị chia năm xẻ bảy hơn để phục vụ xây dựng nhà máy, khu công nghiệp thì hầu hết diện tích đất đồng bằng châu thổ sông Hồng lại được trưng dụng cho mục đích này. Cũng không sao, cũng không ảnh hưởng gì mấy nếu như cùng với việc diện tích đất sản xuất nông nghiệp sụt giảm thì yếu tố công nghệ, hàm lượng chất xám được nâng lên.

Quy hoạch cho sản xuất nông nghiệp, trong đó có sản xuất lương thực, đồng bằng sông Hồng nói riêng, cả nước nói chung thực sự là vấn đề cấp bách.

HNM

ANHTHU