Ô nhiễm ở làng bún Tứ Kỳ

Chính trị - Ngày đăng : 08:37, 18/02/2005

Từ ngày 1-1-2004, làng cổ Tứ Kỳ trở thành hai tổ dân phố 14 và 15 thuộc phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai. Làng này có nghề truyền thống làm bún nổi tiếng đất kinh kỳ xưa. Phần lớn bà con ở đây dùng gạo để làm bún, lấy phụ phẩm chăn nuôi lợn. Thời điểm hưng thịnh nhất của làng nghề, nhiều gia đình nuôi đến hàng trăm con lợn. Các chất thải từ chăn nuôi lợn, sản xuất bún đã có ao hồ, đồng ruộng quanh làng “tải” hết.

Từ ngày 1-1-2004, làng cổ Tứ Kỳ trở thành hai tổ dân phố 14 và 15 thuộc phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai. Làng này có nghề truyền thống làm bún nổi tiếng đất kinh kỳ xưa. Phần lớn bà con ở đây dùng gạo để làm bún, lấy phụ phẩm chăn nuôi lợn. Thời điểm hưng thịnh nhất của làng nghề, nhiều gia đình nuôi đến hàng trăm con lợn. Các chất thải từ chăn nuôi lợn, sản xuất bún đã có ao hồ, đồng ruộng quanh làng “tải” hết.

Trong quá trình đô thị hóa, đất nông nghiệp bị thu hồi để triển khai các dự án xây dựng, dân khắp nơi đến Tứ Kỳ và các vùng lân cận mua đất, làm nhà. Dân số gia tăng nhanh chóng song song với việc tồn tại nghề sản xuất bún truyền thống, trong khi diện tích ao hồ bị thu hẹp, chất thải không có lối thoát khiến môi trường và cảnh quan làng cổ Tứ Kỳ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Mặc dùtrong làng chỉ còn khoảng gần 100 hộ làm bún bán buôn, nhiều gia đình sản xuất nhỏ lẻ đã giải nghệ nhưng sản lượng không giảm khi người ta đã cơ khí hóa, phần lớn các khâu sản xuất bún, mỗi ngày một gia đình cũng có thể đưa ra thị trường hàng tấn bún. Nghề bún làm quanh năm, vì vậy đến làng Tứ Kỳ vào lúc nào người ta cũng thấy được mùi “đặc trưng” của những cặn bã, phế phẩm từ gạo để lâu ngày và từ dòng nước thải đen ngòm tồn đọng sâm sấp bề mặt cống thoát nước. Con mương chảy quanh làng ngập ngụa rác thải, dòng nước đen lưu cữu, ruồi muỗi tha hồ sinh sôi nảy nở. Những ao tù ít ỏi còn sót lại trong làng cũng bị biến thành chỗ chứa rác và ứ đọng nước thải, cây dại mọc um tùm, trở thành “điểm đen” gây ô nhiễm môi trường trong khu vực.

Từ khi đất nông nghiệp bị thu hẹp, nhiều nông dân bỏ cày cuốc, chuyển sang làm bún hoặc các ngành dịch vụ khác, cái quy trình khép kín: cấy lúa lấy gạo làm bún - lấy phế phẩm từ bún nuôi lợn - phân lợn dùng bón ruộng nay bị phá vỡ. Người ta vẫn làm bún, nuôi lợn (hiện có nhà nuôi đến vài chục con lợn) nhưng cây lúa thì không còn đáng là bao, thành ra mọi “phế phẩm” từ chăn nuôi được tống hết ra cống rãnh. Hệ thống cống thoát nước của làng cải tạo năm 2001 nhưng cũng chỉ thay thế ống cống lớn ở những trục thoát nước chính, còn nhữngnhánh phụ do người dân tự xây dựng từ nhiều năm nay không được cải tạo, nạo vét, hiện đã xuống cấp. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ứ đọng nước thải, gây ô nhiễm môi trường.

Theo nhiều người dân trong làng, còn một nguyên nhân khác khiến Tứ Kỳ thành “lỏng chảo” chứa nước thải: Các dự án nâng cấp, mở rộng đường, xây dựng khu đô thị mới... đều có nền cao hơn “cốt” chung của làng đến hơn 1m, trong khi cả khu vực thiếu một quy hoạch tổng thể cho việc thoát nước, hồ ao trong làng bị san lấp tràn lan. Vì vậy, nước thải loanh quanh không thoát được, dềnh lên gây ô nhiễm môi trường là điều khó tránh khỏi.

Thành phố và các ban, ngành chức năng cần chú trọng xây dựng quy hoạch tổng thể giữa xây dựng các hạng mục hạ tầng kỹ thuật những khu đô thị mới với hạ tầng của những vùng quê, làng nghề lân cận. Nhưng trước hết, chính quyền sở tại và nhân dân làng nghề Tứ Kỳ cần có các biện pháp “tình thế” để cải thiện môi trường sống như tập trung thu gom rác, thường xuyên nạo vét cống rãnh, cải tạo hệ thống thoát nước, xử lý chất thải, như thế mới có thể phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân.

HNM

ANHTHU