Hà Nội mở đầu kháng chiến toàn quốc

Chính trị - Ngày đăng : 19:27, 29/11/2004

Năm 1946, khi quân Pháp, vì lợi ích thực dân, bất chấp thiện chí của ta, cố tình xâm lược nước ta một lần nữa thì quân và dân Hà Nội đồng lòng thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở đầu kháng chiến.

Năm 1946, khi quân Pháp, vì lợi ích thực dân, bất chấp thiện chí của ta, cố tình xâm lược nước ta một lần nữa thì quân và dân Hà Nội đồng lòng thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở đầu kháng chiến.

Ngày 19-10-1945, Hội nghị quân sự của Đảng họp, khẳng định chiến tranh lan rộng không thể tránh khỏi: "Nhất định không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp".

Công cuộc chuẩn bị kháng chiến tăng nhịp độ khẩn trương: bộ máy nhà nước, các cơ quan chỉ đạo, chỉ huy chiến đấu được kiện toàn, các chiến khu được xác định. Bộ Tổng tham mưu và các đơn vị, địa phương lập kế hoạch tác chiến, phổ biến cách đánh. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chuẩn bị về chính trị - tinh thần cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trước khi bước vào cuộc chiến.


Lực lượng vũ trang cùng toàn dân sẵn sàng kháng chiến, cứu nước.


Tiếp tục chủ trương khiêu khích, lấn dần, đánh úp, ngày 17-12-1946, Pháp cho xe tăng phá các công sự của ta ở phố Lò Đúc, đồng thời tàn sát dã man đồng bào ta ở phố Hàng Bún và Yên Ninh. Các ngày 18 và 19, họ gửi tối hậu thư với những lời lẽ đe doạ, thách thức gay gắt.


Tuy vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn gửi thư cho Xanh-tơ-ni yêu cầu ông ta gặp đại diện chính phủ ta để "tìm một giải pháp cải thiện bầu không khí hiện tại".


Xanh-tơ-ni khước từ.


Thực hiện Quyết định của Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng họp tại Vạn Phúc (Hà Đông), Bộ Tổng chỉ huy chủ trương mở "cuộc tiến công" vào các vị trí quân Pháp tại đô thị bắc vĩ tuyến 16: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng..., phá âm  mưu đánh úp của địch, bảo vệ cơ quan đầu não và lực lượng kháng chiến, tiêu hao, tiêu diệt, giam chân địch một thời gian, tạo điều kiện chuyển cả nước vào thời chiến.


Trong khi đó, Trung ương chỉ thị cho Xứ ủy Nam Bộ về nhiệm vụ phối hợp chiến lược với chiến trường toàn quốc. Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu uy hiếp địch trong thành phố Sài Gòn, "phải làm kỳ được" việc phá hoại cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh của chúng, kể cả tàu thuyền chuyên chở trên sông, "không để cho Pháp đem hết tài sản chiếm được ở Nam Bộ ra đánh Trung, Bắc"... (1)


Chiều 19-12-1946, Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp ra mệnh lệnh chiến đấu.


Đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", đêm 19 rạng sáng 20-12-1946, quân và dân ta tại các đô thị nổ súng đánh địch, mở đầu kháng chiến toàn quốc.


Tại Bắc Giang và Bắc Ninh, mỗi nơi Pháp có một đại đội. Bị đánh, chúng dựa vào các vị trí cấu trúc kiên cố phản kích. Ngày 30, chúng rút chạy về Hà Nội.


Tại Hải Dương, địch cố chống cự nhằm giữ chốt chiến lược trên tuyến giao thông Hà Nội - Hải Phòng. Quân ta giãn ra bố trí bám đánh địch dọc tuyến đường 5.


Tại Vinh, ta bao vây uy hiếp, gọi hàng. Trong thế cô lập, cả trung đội Pháp đầu hàng, ta thu nhiều vũ khí, trang bị, trong đó có một máy bay mo-ran.


Cuộc chiến đấu quyết liệt, dài ngày diễn ra tại Hà Nội, Nam Định, Huế và Đà Nẵng.


Tại Nam Định, 650 quân Pháp dựa vào khu máy dệt, máy sợi và các nhà kiên cố cố thủ dài ngày. Ngày 6-1-1947, địch cho quân thủy đổ bộ lên và quân dù nhảy xuống giải vây, bị quân và dân ta đánh thiệt hại nặng. Đến những ngày đầu tháng 3, địch cho một lực lượng lớn tăng viện giải vây, quân ta rút ra ngoài tiến hành chiến tranh du kích, thường xuyên luồn vào nội thành đánh phá. Quân và dân Nam Định đã vây hãm địch suốt hơn 80 ngày đêm.


Tại Huế, 2 giờ 30 phút sáng 20-12, công nhân phá máy điện, lực lượng vũ trang ta đồng loạt tập kích 750 lính viễn chinh Pháp đóng xen kẽ với ta tại khu bờ nam sông Hương. Sau gần 2 ngày chiến đấu, bộ đội và tự vệ rút khỏi khu Pháp đóng, cùng nhân dân vùng ven dựng chiến lũy dựa vào sông Hương, sông An Cựu và đường số 1 bao vây địch. Những đội cảm tử liên tiếp tập kích nội đô, gây cho địch nhiều thiệt hại. Cuộc vây hãm Huế kéo dài 50 ngày.


Đà Nẵng, nơi đổ bộ của quân Pháp, chúng có 6.500 tên. Sáng 20, quân Pháp phản công nhằm nhanh chóng đánh bật lực lượng ta ra khỏi thành phố. Nhiều trận đánh ác liệt diễn ra ở Cổ Viên Chàm, Ngã Năm, bốt Đội Cung... Theo kế hoạch chung, bộ đội và tự vệ lùi dần ra ngoại ô cùng nhân dân các huyện Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên... lập vành đai bao vây địch hàng tháng trời.


Tiêu biểu cho cả nước là cuộc chiến đấu hào hùng của quân và dân ta tại thủ đô Hà Nội, bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước, bảo vệ thủ đô yêu quý. Tại đây, vào cuối năm 1946 đầu năm 1947, quân Pháp có 6.500 tên và hơn 10.000 Pháp kiều, phần lớn được trang bị vũ khí. Lực lượng vũ trang thủ đô có 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 trung đội công an xung phong, dân quân tự vệ nội ngoại thành, gồm 28.500 người cùng các tầng lớp nhân dân sẵn sàng tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.


20 giờ 3 phút, công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy, đèn điện toàn thành phố phụt tắt: hiệu lệnh tiến công đã phát. Các pháo đài Láng, Xuân Canh, Xuân Tảo...  đồng loạt bắn vào khu Thành và các mục tiêu đã định. Hà Nội vùng đứng lên, bừng bừng khí thế tiến công, trút căm hờn lên đầu quân giặc. Nhân dân quẳng bàn, ghế, giường, tủ, sập gụ, bao hàng, bao cát... ra đường lập chiến lũy; cây cối, cột điện được ngả xuống; công nhân đẩy toa tàu hỏa, tàu điện chặn ngã tư, ngã năm. Chiến lũy mọc lên trên khắp đường phố mà quân địch có thể đánh ra. Từng đám lửa bùng cháy đỏ rực thành phố. Hà Nội thật sự hình thành thế trận mỗi nhà là một pháo đài, mỗi phố là một chiến tuyến. Lực lượng vũ trang ta đồng loạt tiến công địch ở nhiều nơi : đầu cầu Long Biên, nhà máy điện, nhà máy nước Yên Phụ, nhà máy đèn Bờ Hồ, rạp chiếu bóng Ma-giét-tích, cửa Đông khu Thành, Hàng Bông, Thợ Nhuộm... Oanh liệt nhất là trận chiến đấu bảo vệ Bắc Bộ Phủ (gồm trụ sở Bộ Nội vụ, Bộ Lao động và nhà làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Đêm 19-12 trở thành đêm lịch sử của Hà Nội anh dũng mở đầu cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp trên cả nước.


Sau 3 ngày chiến đấu, theo kế hoạch đã định, Tiểu đoàn 101 chuyển vào Liên khu 1, khu phố có địa hình phức tạp ở trung tâm Hà Nội, nhằm thu hút địch, phối hợp với hai liên khu II và III hình thành thế trận trong đánh ngoài vây - trong ngoài cùng đánh.


Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, để việc chỉ huy tập trung, nhanh chóng, ngày 6-1-1947, Trung đoàn Liên khu I được thành lập, thống nhất Vệ quốc đoàn, tự vệ, công an xung phong toàn liên khu. Một tuần sau, Hội nghị quân sự toàn quốc đã tặng Trung đoàn Liên khu I danh hiệu vẻ vang: Trung đoàn Thủ Đô.


Cả Hà Nội vào trận. Nhân dân lao động, trí thức, học sinh, sinh viên, tiểu thương, nhà tư sản, nhà sư... vừa phục vụ chiến đấu như cứu thương, tiếp tế, thông tin liên lạc, vừa động viên bộ đội và tự vệ chiến đấu. Nhiều thanh niên nam nữ tình nguyện nhập ngũ ngay từ những ngày đầu kháng chiến của thủ đô. Nhân dân nội thành tản cư ra ngoài đã hăng hái cùng đồng bào ngoại thành đào hàng chục km giao thông hào, hàng trăm hố chiến đấu và phòng tránh, tham gia tiêu thổ kháng chiến. Từ đêm Hà Nội nổ súng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thường vụ Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy theo dõi chặt chẽ và chỉ đạo kịp thời các mặt trận. Tết Đinh Hợi (1947), Tết kháng chiến đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Trung đoàn thủ đô, biểu dương tinh thần cảm tử, tinh thần quật cường chống ngoại xâm, tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc của cán bộ, chiến sĩ thủ đô.


Cả nước hướng về Hà Nội, phối hợp với Hà Nội: Các trung đoàn Vệ quốc đoàn Sơn Tây, Hà Đông, Thái Nguyên, Phúc Yên lần lượt đưa lực lượng về tăng cường cho cuộc chiến đấu trên các cửa ô.


Quân và dân ta tại các thành phố, thị xã bắc vĩ tuyến 16 anh dũng chiến đấu giam chân địch, không cho chúng rảnh tay chi viện cho đồng bọn tại Hà Nội. Tại Nam Bộ, Xứ ủy lâm thời ra chỉ thị đẩy mạnh chiến tranh du kích "đánh địch ở khắp các mặt trận". Ngay trong ngày 20-12, 13 đội tự vệ Thành và các đội cảm tử Sài Gòn đồng loạt nổ súng, gây tiếng vang lớn trong thành phố. Tại Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, quân ta đánh địch ở Đèo Cả, Vũng Rô, Phú Lâm, An Khê, Gia Hội, Thượng An..., liên tiếp tổ chức các trận đánh giao thông trên đường số 1, đường xe lửa Sài Gòn - Phan Thiết, Tháp Chàm - Đà Lạt...


Có thêm viện binh, từ ngày 15-1-1947, quân Pháp tập trung lực lượng đánh lớn ra các cửa ô. Chiếm được các cửa ô, chúng quyết diệt ta ở Liên khu I.


Quân và dân thủ đô trụ bám dài ngày, khó  khăn ngày một lớn: thương vong nhiều, đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men và nước sinh hoạt ngày càng cạn kiệt. Với dự kiến giữ thủ đô khoảng 15 ngày hoặc một tháng, quân ta đã giữ được nhiều hơn thế, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ngày 17-2-1947, Trung đoàn Thủ Đô và số dân còn lại thực hiện cuộc rút lui thần kỳ về hậu phương an toàn, kết thúc 60 ngày đêm chiến đấu anh hùng, xứng đáng là niềm tin yêu của cả nước.


Cuộc chiến đấu của quân và dân ta tại đô thị bắc vĩ tuyến 16, tiêu biểu là ở Hà Nội, mở đầu kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kéo dài gần 3 tháng (19-12-1946 - 10-3-1947) có ý nghĩa lịch sử và thực tiễn sâu sắc.


Cuộc chiến đấu đã đáp ứng yêu cầu lịch sử mở đầu cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ độc lập tự do, thành quả cách mạng vừa giành được, một sự nghiệp cao cả, chính nghĩa. Khi quân Pháp, vì lợi ích thực dân, bất chấp thiện chí của ta, cố tình xâm lược nước ta một lần nữa thì quân và dân đồng lòng thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở đầu kháng chiến. Cuộc chiến đấu đã phá thế đánh úp ta của địch, bước đầu làm phá sản chiến lược đánh nhanh thắng nhanh và tiêu hao, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực của chúng. Đặc biệt, đã tạo ra khoảng thời gian chiến lược vô cùng quý báu chuyển cả nước vào thời chiến, bảo tồn lực lượng kháng chiến lâu dài.


Nét đặc sắc nhất của cuộc chiến đấu là tinh thần chủ động. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã chủ động phát hiện kẻ thù, đối tượng tác chiến, sớm nhận ra nguy cơ chiến tranh và ra sức chuẩn bị về mọi mặt; chủ động mở đầu và chủ động kết thúc đúng thời cơ. Nếu mở đầu sớm hơn, quân đội không giữ nghiêm kỷ luật, bị địch khiêu khích, nổ súng trước, khi chưa kịp chuẩn bị, chắc chắn sẽ gặp tổn thất và bị địch lợi dụng tuyên truyền xuyên tạc. Mở đầu muộn hơn, địch có thêm viện binh, có thể bị đánh úp tổn thất khó lường. Chủ động rút ra ngoài khi đã hoàn thành nhiệm vụ và những khó khăn khó vượt qua được là quyết định chính xác. Ta còn chủ động trong việc chọn phương án đánh địch tại đô thị - địa bàn chúng đã đứng chân. Bài học về tác chiến ở đô thị chắc chắn đã là hành trang của nhiều vị lãnh đạo, chỉ huy trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Sau nữa là, quân và dân ta đã vận dụng sáng tạo cách đánh tại địa bàn đô thị, hạn chế được chỗ mạnh và khoét sâu chỗ yếu của đối phương, phát huy chỗ mạnh và khắc phục chỗ yếu của ta, giành thắng lợi. Trong tác chiến đã kết hợp giữa đánh ở bên trong và vây đánh từ bên ngoài, giữa quân và dân ở nội thị, giữa thành phố và các địa phương lân cận, giữa từng địa phương với cả nước, bước đầu hình thành mô hình sức mạnh tổng hợp.


Cuộc chiến đấu hào hùng của quân và dân ta tại đô thị bắc vĩ tuyến 16 hồi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp đã giam chân địch tạo ra khoảng thời gian chiến lược quý báu chuyển đất nước vào thời chiến, bước đầu xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, tổng di chuyển cơ quan, kho tàng, xí nghiệp... về hậu phương thắng lợi, khẳng định niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, tạo đà cho những thắng lợi tiếp sau, và là một tiêu biểu của lịch sử về nghệ thuật mở đầu kháng chiến chống xâm lược.

Theo ND
...............................................


 (1). Văn kiện quân sự của Đảng, NXB Quân đội nhân dân, H. 1976, tập 2, tr.72

HONGHAI