Luật phá sản hiện hành: Thiếu cơ chế sàng lọc doanh nghiệp

Đời sống - Ngày đăng : 06:00, 08/10/2013

(HNM) - Sau khoảng 9 năm thi hành Luật Phá sản 2004, tòa án các cấp chỉ phải thụ lý 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, ra quyết định mở thủ tục phá sản 236 trường hợp, nhưng chỉ tuyên phá sản 83 trường hợp.



So sánh với tỷ lệ khoảng 97 nghìn doanh nghiệp (DN) ngừng hoạt động và giải thể trong năm 2012 và 9 tháng đầu năm 2013, rõ ràng có sự mâu thuẫn giữa lượng ngừng hoạt động và số DN được tuyên bố phá sản. Đã đến lúc cần xem xét lại tính khả thi của Luật Phá sản 2004.

Nhiều doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng rất ít trong số đó được tuyên bố phá sản. Ảnh: Đức Nghiêm


Luật Phá sản năm 2004 có 95 điều, nhưng có đến 57 điều được các tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đánh giá khó vận dụng trong quá trình thụ lý và giải quyết đơn yêu cầu phá sản. Lý do chung được đưa ra là trình tự thủ tục phá sản quá phức tạp, cùng với đó là có những quy định không phù hợp với thực tiễn. Đơn cử như tại Điều 3, Luật Phá sản quy định: "DN, hợp tác xã không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản". Với quy định như vậy, theo các DN, điều luật này chỉ mang tính chất định tính, thiếu chặt chẽ, không phản ánh đúng thực trạng tình hình tài chính của DN. Nếu căn cứ vào lý do không thể thanh toán các khoản nợ đến hạn đều lâm vào tình trạng phá sản thì rất nhiều DN rơi vào cảnh này. Tuy nhiên, không phải cứ có nợ quá hạn là DN, hợp tác xã thuộc diện hết đường chi trả. Trên thực tế, hầu hết các DN, hợp tác xã đều vừa là con nợ đối với một vài người, lại vừa là chủ nợ đối với một số cá nhân khác. Thậm chí, theo TAND tối cao, có hợp tác xã, DN bị yêu cầu tuyên bố phá sản vẫn là chủ nợ với số tiền lớn hơn số nợ mà họ quá hạn. Trong một số trường hợp, DN có thể không trả được nợ ngay, nhưng họ có thể tái cơ cấu, bán bớt một phần tài sản, thu gọn hoạt động, cắt giảm một số chi phí…, từ đó, cân đối được nguồn để trả trong một thời gian nhất định.

Khó khăn không chỉ bộc lộ trong việc nhận định, đánh giá tình hình kinh doanh thực chất của DN, Luật Phá sản còn khiến DN muốn tuyên bố phá sản mà không thể thực hiện. Một nội dung đã trở thành "đánh đố" đối với người đại diện DN dân doanh nộp đơn mở thủ tục phá sản, đó là phải nộp kèm theo một số tài liệu như: Báo cáo tình hình hoạt động, bảng kê chi tiết tài sản, danh sách người mắc nợ của DN. Sau khi nhận được, nếu thấy cần sửa đổi đơn, bổ sung tài liệu thì tòa án có quyền yêu cầu người nộp đơn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 10 ngày. Quy định trên được chứng minh là bất khả thi. Bởi lẽ, thời gian thực hiện quá ngắn, vả lại không phải người yêu cầu mở thủ tục phá sản nào cũng có thể lưu giữ toàn bộ giấy tờ, sổ sách. Trong khi đó, rất nhiều DN dân doanh làm ăn thất bại cần được phá sản theo quy định của pháp luật để họ có điều kiện tìm cơ hội tổ chức đầu tư, lập công ty mới, phục hồi kinh doanh. Với DN nhà nước, thủ tục còn khó hơn. Cụ thể là nếu các đơn vị muốn được phá sản còn phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan chủ quản như bộ, UBND cấp tỉnh…

Không chỉ vậy, TAND tối cao hiện đang đề nghị các cơ quan liên quan nghiên cứu, sửa đổi một số nội dung của Luật Phá sản, từ việc đưa ra tiêu chí, thủ tục phá sản của DN nhà nước và các thành phần kinh tế khác. Đề xuất nổi bật là sửa quy định DN nợ đến hạn trên 200 triệu đồng trong vòng 3 tháng, kể từ ngày chủ nợ yêu cầu sẽ bị coi là lâm vào tình trạng phá sản. Quy định này thiếu thực tế vì có nhiều DN, tập đoàn quy mô vốn lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng thì không thể chỉ vì nợ đối tác đến hạn 200 triệu đồng trong vòng 3 tháng là có thể coi đây là căn cứ xác định phá sản. Hơn nữa, đặc thù kinh doanh, quy mô hoạt động của các DN, hợp tác xã rất khác nhau. Có những DN tiền vốn chỉ vài chục triệu đồng, vài trăm triệu đồng, nhưng cũng có những DN lên đến hàng nghìn tỷ đồng, trăm nghìn tỷ đồng, nên việc đưa ra tiêu chí chung như trên là không phù hợp.

TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho rằng, điều kiện nợ 200 triệu đồng trong 3 tháng không trả được sẽ cho phá sản chỉ phù hợp với loại hình DN siêu nhỏ, DN nhỏ, DN gia đình và số tiền 200 triệu đồng chiếm gần hết vốn kinh doanh của họ. Để bảo đảm tính thực tiễn, cần xem xét trên cơ sở tổng số nợ đến hạn không trả được của DN so với phần trăm vốn đăng ký kinh doanh, để đánh giá DN đã đến mức lâm vào tình trạng phá sản hay chưa. Mặt khác, cũng không nên có sự phân biệt giữa DN nhà nước và DN thuộc các thành phần kinh tế khác với việc mở thủ tục phá sản riêng. Đã lâm vào tình trạng phá sản thì phải bình đẳng như nhau, nếu không sẽ phản ánh không trung thực thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là khối DN nhà nước.

Những bất cập nêu trên cho thấy, sửa đổi Luật Phá sản là một yêu cầu cấp thiết, đặc biệt trong giai đoạn kinh tế đất nước đang gặp nhiều khó khăn hiện nay.

Hà Phong